Showing posts with label Bệnh Ung thư. Show all posts
Showing posts with label Bệnh Ung thư. Show all posts

Wednesday, July 6, 2016

THỰC HƯ NƯỚC ĐUN SÔI ĐỂ NGUỘI GÂY UNG THƯ

Bản chất của việc đun sôi là dùng nhiệt để tiêu diệt hoàn toàn vi sinh vật, ký sinh trùng gây ô nhiễm trong nguồn nước. Nhưng khi dùng nhiều người đã vô tình biến nước đun sôi thành nước bẩn.

Bình thường, nước đun sôi 100 độ C đã diệt được vi khuẩn, nhưng để nguội trên 2 giờ đồng hồ đã bắt đầu có vi khuẩn và sau 24 giờ, lượng vi khuẩn đã tăng lên rất nhiều. Nhận định của các nhà khoa học cho thấy nhiều bất cập của việc uống nước đun sôi.
Trước thông tin nước đun sôi để nguội lâu ngày có thể sản sinh ra chất gây ung thư, khiến nhiều người hoang mang, theo các chuyên gia cho biết thêm, hiện nay chưa có bất cứ công bố khoa học nào của các cơ quan uy tín trên thế giới như Tổ chức Y tế thế giới hay hội nghị khoa học uy tín đề cập về vấn đề này. Vấn đề duy nhất chỉ là nguy cơ tái nhiễm bẩn của nước.


Nước đun sôi không phải loại nước tốt nhất cho cơ thể

PGS.TS Nguyễn Duy Thịnh, cán bộ Viện Công nghệ Thực phẩm, Đại học Bách khoa Hà Nội nhận định, trước đây, nguồn nước tự nhiên không hoặc ít bị ô nhiễm và chứa nhiều vi khuẩn như bây giờ. Trong nước có chứa lượng oxy và chất khoáng cực tốt, đặc biệt là khí oxy khi uống vào sẽ tạo điều kiện cho vi sinh vật trong ruột tiêu hóa rất tốt. Với những nguồn nước sạch tự nhiên, có thể uống và dùng được ngay. Đây là loại nước tốt nhất cho cơ thể. Tuy nhiên hiện nay, nguồn nước vừa bị nhiễm hóa chất, vừa chứa nhiều vi sinh vật và kí sinh trùng nên khó có thể dùng ngay. “Uống nước đun sôi là giải pháp tốt của người dân. Bản chất của việc đun sôi là dùng nhiệt để tiêu diệt hoàn toàn vi sinh vật, kí sinh trùng gây ô nhiễm trong nguồn nước. Tuy nhiên, việc đun sôi nước để uống cũng bộc lộ nhiều nhược điểm”, ông Thịnh nói.

Thứ nhất, ở nhiệt độ đun sôi đã tiêu diệt được không ít vi khuẩn và các chất độc hại nhưng đồng thời cũng làm biến đổi cấu trúc tự nhiên của nước, làm mất oxy và một số nguyên tố vi lượng cần cho cơ thể. Do đó, khi con người uống loại nước này sẽ khó tiêu hơn. “Cá có thể sống trong môi trường nguồn nước tự nhiên nhưng nếu bạn đặt chúng trong một chậu nước đun sôi để nguội, chắc chắn nó sẽ chết. Với con người, tất nhiên sẽ không chết như vậy song nếu uống nước đun sôi để nguội như vậy, tức là sẽ thiếu lượng oxy trong nước, gây cản trở vi sinh vật trong đường ruột phát triển. Lượng oxy này khá cần thiết vì người ta chỉ có thể đưa oxy vào phổi chứ không đưa vào ruột”, ông Thịnh nói thêm.

Nhược điểm thứ hai là nguy cơ tái nhiễm khuẩn trong nước đun sôi để nguội rất cao. Càng để lâu, nước càng bẩn. Tiến sĩ Thịnh phân tích, trong nước càng nhiều vi sinh vật, càng nhiều trứng kí sinh trùng bao nhiêu, khi đun sôi, chúng sẽ bị tiêu diệt hoàn toàn, đồng thời bị phân rã tạo thành chất hữu cơ trong nước và tạo thành nguồn thức ăn dồi dào cho những vi sinh vật ở ngoài. Trong khi đó, môi trường bên ngoài chứa rất nhiều vi sinh vật.

Nguy cơ từ thói quen uống nước đun để nhiều ngày

Lúc này, nguy cơ tái nhiễm rất lớn, nước sẽ nhanh bị thiu và lượng vi sinh vật nhân lên gấp bội, thậm chí loại nước này còn độc hại hơn lúc chưa đun. Đồng quan điểm, thạc sĩ, bác sĩ Dzoãn Thị Tường Vi (nguyên Trưởng khoa Dinh dưỡng, Bệnh viện 198) cũng đưa cảnh báo cần thay đổi ngay thói quen đun 2-3 ấm nước để nguội, cho vào bình uống dần cả tuần.

Theo thông tin này, các bác sĩ ở Viện Dinh dưỡng Quốc gia cho rằng, nước đun sôi 100 độ C đã diệt được vi khuẩn, nhưng để nguội trên 2 giờ đồng hồ thì vi khuẩn sẽ xuất hiện trở lại, sau 24 giờ thì lượng vi khuẩn đã tăng lên rất nhiều.Nếu cứ đổ chồng nước cũ vào nước mới với nhau sau khi đun, vô tình sẽ càng nhân số lượng vi khuẩn của nước tăng lên nhanh chóng, dễ sinh ra nấm mốc, gây hại cho cơ thể.

Uống nước sôi để nguội lâu ngày rất bất lợi cho sức khỏe, vì chất muối axit nitrat (là một chất dễ gây ung thư) được sản sinh trong nước đun sôi để nguội. Sau một ngày, mỗi lít nước có thể sản sinh 0,004mg muối axit nitrat, để sau 3 ngày lượng nước muối này lên đến 0,011mg và sau 20 ngày có thể lên đến 0,73mg. Nghiên cứu này kết luận rằng, không nên uống nước sôi để nguội lâu ngày vì khi đó oxy trong nước đã bốc đi gần hết, những vật hữu cơ bị phân giải và những vật vô cơ lắng xuống, khiến giá trị của nước uống bị mất đi.

Uống nước nào tốt nhất?

Theo cả hai chuyên gia, đun nước để uống là cần thiết nhưng không phải là loại nước tốt nhất cho cơ thể. Bạn chỉ nên uống nước đun sôi để nguội trong một ngày, không để sang ngày hôm sau. Tuyệt đối không tích nước để nguội cả tuần.

Ngoài ra, nước đun sôi để nguội cần phải được đảm bảo trong khu vực sạch sẽ, dụng cụ chứa nước phải đạt tiêu chuẩn của y tế đã quy định, tránh sử dụng các loại nhựa tái chế để chứa nước. Để đảm bảo an toàn, tốt nhất nên bảo quản nước sôi để nguội trong bình kín.

PGS Thịnh cho rằng hiện nay phương pháp lọc khá tối ưu với 2 cách: Lọc vi sinh vật bằng cách dùng màng lọc (lọc xong vi sinh vật sẽ biến mất mà không cần đun) và lọc trao đổi ion để loại bỏ các chất độc hại, cả những chất kim loại độc hại.

Đựng nước sôi đúng cách PGS.TS Trần Hồng Côn cho rằng, nếu là nước sạch đun sôi thì thời gian để thoải mái, tất nhiên là không quá lâu lên đến cả tuần hay cả tháng. Vật liệu để nước cũng rất quan trọng. Đối với bình thủy tinh thì có thể đựng nước thoải mái mà không lo chất độc có thể xâm nhập vào nước, nhưng với những bình đựng nước bằng nhựa kém chất lượng (nhất là những loại nhựa trôi nổi trên thị trường) thì khả năng nhiễm độc từ chúng là rất cao. Các loại bình nhựa này khi đựng nước có thể giải phóng phân tử hữu cơ, đặc biệt là nếu đựng nước nóng thì loại nhựa này sẽ phôi ra vào trong nước những tạp chất chứa trong nó.

Hiện nhiều gia đình có thói quen uống nước khoáng, nước tinh khiết thay cho nước đun sôi. Thế nhưng, nước tinh khiết chỉ cung cấp nước mà không chứa các chất cần thiết cho cơ thể, còn nước khoáng thì mỗi loại sẽ có hàm lượng khoáng khác nhau như natri, kali, calci, magie… nên nếu dùng một loại mãi thì cơ thể ta sẽ thiếu những chất khoáng khác. Loại nước tốt nhất cho cơ thể hiện nay là nước đun sôi để nguội. Đặc biệt, với trẻ nhỏ thì nước đun sôi là đồ uống tốt nhất, giúp cho cơ thể trẻ dễ hấp thu, tăng lượng hồng cầu của tế bào, thúc đẩy quá trình trao đổi chất, nhanh chóng phục hồi thể lực. “Nên lưu ý việc vệ sinh bình đựng, ấm đun và ly tách, dụng cụ chứa nước để tránh sự xâm nhập của vi khuẩn làm nhiễm khuẩn nguồn nước gây tác hại xấu cho sức khỏe”. PGS.TS Trần Hồng Côn cho biết.

Theo Vietnamnet.vn

NÊN DÙNG NƯỚC MƯA CHO ĂN & UỐNG

Nước mưa là nước tinh khiết nên rất sạch . Do kô khí bị ô nhiễm , nước mưa bị nhiễm bẩn . Để hạn chế điều này ta nên lấy nước mưa theo cách sau :
Lấy NM từ mái ngói đất nung , xi măng , nhựa tốt … .(không lấy từ mái tôn màu , amiang ,nhựa tái chế ,các bề mặt có phủ sơn …). Chỉ lấy nước khi có mưa lớn , dài ngày (mưa bão , áp thấp nhiệt đới …) .Có lọc cặn bẩn trước khi đưa vào bể chứa . Bể chứa tốt nhất là bể xây bằng gạch ( xi măng có vôi tự do sẽ trung hòa axít – NM càng để lâu càng tốt) , có nắp kín nhưng phải có lỗ thông khí .
GĐ tôi chỉ sd nước mưa để ĂN và UỐNG , 1 người dùng hết hết / 1,5 m3 đến 2 m3 / 1 năm . Nếu có thể chỉ lấy nước 1 vài lần trong 1 năm >

NƯỚC MƯA CHỈ CẦN CHO QUA BÌNH LỌC LÀ UỐNG ĐƯỢC , KHÔNG PHẢI ĐUN SÔI . TÔI ĐÃ SỬ DỤNG NHIỀU NĂM , KẾT QUẢ TỐT .

CHÚ Ý

SAI LẦM PHỔ BIẾN CỦA NGƯỜI VIỆT : CHO NƯỚC ĐUN SÔI ĐỂ NGUỘI VÀO BÌNH LOC , RỒI SỬ DỤNG NƯỚC TỪ BÌNH LỌC ĐÓ

VỚI VIỆC LÀM NÀY NGƯỜI TA ĐÃ PHẠM NHỮNG SAI LẦM SAU :

- TỪ SAU NGÀY ĐẦU TIÊN CỦA LẦN ĐẦU XỬ DỤNG , NƯỚC LẤY TỪ BÌNH LỌC LÀ NƯỚC BẨN , NHỮNG NGÀY TIẾP THEO SAU LÀ NƯỚC THIU (THỐI )

- LÀM HỎNG CỤC LỌC .TÔI ĐÃ NÓI ĐIỀU NÀY VỚI RẤT NHIỀU NGƯỜI , TRONG RẤT NHIỀU , NHIỀU NĂM ( TRONG SỐ ĐÓ NHIỀU NGƯỜI CÓ BẰNG CẤP CAO VÀ RẤT CAO VỀ KHTN NHƯNG CHẲNG AI NGHE CẢ - THẬT BUỒN CHO NGƯỜI VIỆT )

Nguồn Sang Ngo

Sunday, July 3, 2016

Những điều cần biết về bệnh viêm gan B và ung thư gan

1. Tỉ lệ bị viêm gan B và C ở người Việt và châu Á rất cao. Viêm gan B là 16% và viêm gan C là 10%. Có thể còn cao hơn vì nhiều người không đi thử.

2. Đàn ông Việt Nam có tỉ lệ bị ung thư gan cao gấp 13 lần người Mỹ trắng (người gốc Đại Hàn gấp 8 lần và người gốc Hoa gấp 6 lần).

3. Nguyên nhân chính gây ra ung thư gan ở người Á châu là viêm gan B. Với viêm gan B, người có bệnh có thể bị ung thư gan khi gan chưa bị chai và ngay cả khi thử máu không thấy có dấu hiệu siêu vi B đang hoạt động.

4. Viêm gan B cũng gây ra cái chết vì chai gan hay viêm gan cấp tính.

5. Những người bị nhiễm viêm gan B khi còn thơ ấu hay lúc lọt lòng mẹ, có tỉ lệ bị ung thư gan rất cao, đến 40% và có thể ở tuổi trẻ.

6. Hiện thời có thuốc để chữa viêm gan B. Tuy nhiên hiệu quả chữa lành của các thuốc này còn thấp, chỉ dưới 20%. Do đó khoa học tiếp tục nghiên cứu nhiều thuốc mới đang được thí nghiệm.

7. Tiêm phòng viêm gan B nếu chưa bị mắc bệnh là cách tốt nhất để ngừa chứng hư gan vì siêu vi B và ung thư gan.


8. Các trẻ em sinh ở Mỹ trong vòng 20 năm qua đều đã được tiêm phòng viêm gan B. Ngoài ra trẻ em vào lớp 7 cũng phải được tiêm phòng siêu vi B. Tuy nhiên, còn rất nhiều trẻ em chưa được tiêm phòng.

9. Viêm gan C thường mạn tính và thường 20 – 30 năm sau mới gây ra bệnh nặng như chai gan, ung thư hay hư gan.

10. Người bị viêm gan C cũng dễ bị ung thư gan, nhưng thường thì phải bị chai gan trước khi trở thành ung thư gan.

11. Cũng có thuốc chữa bệnh viêm gan C, phải dùng cả thuốc uống và thuốc tiêm và cơ hội chữa bệnh khoảng 50%.

12. Chưa có thuốc tiêm phòng cho viêm gan C.

13. Cả viêm gan B và C đều truyền qua sự đụng chạm về máu như truyền máu, sử dụng kim tiêm, dùng dao cạo râu, bàn chải đánh răng… của người bệnh. Sự giao hợp nam nữ cũng có thể làm lây bệnh viêm gan B và C từ người này qua người khác. Truyền máu ở nước Mỹ rất an toàn trong vấn đề này vì tất cả máu đều đã được thử siêu vi viêm gan B, C và HIV.

14. Ăn cùng mâm cùng bát đũa không bị lây viêm gan B hay C, nhưng có thể làm lây viêm gan A là một loại viêm gan nhẹ và thường không gây những hậu quả tai hại về sau. Tuy nhiên, nếu bị lây bệnh này sau khi đã bị viêm gan B hay C thì gan có thể sẽ bị yếu đi gây thêm thương tích cho gan.

15. Uống rượu khi đã bị viêm gan B hay C có thể càng làm gan yếu hơn, gia tăng cơ hội bị chai gan hơn và gia tăng cơ hội bị ung thư gan hơn. Vì vậy, nếu muốn uống rượu, chỉ nên uống vừa phải nếu gan tốt và không bị nhiễm siêu vi B hoặc C hay một bệnh gan nào khác. Nếu bị bệnh gan, nhất là bị siêu vi B hay C, tuyệt đối không nên uống rượu. Nguyên nhân gây chai gan và ung thư gan nhiều nhất cho những người không bị siêu vi gan B hay C là do uống nhiều rượu.


Những điều nên làm để phòng ngừa

16. Mọi người nên thử máu để xem có bị viêm gan B hay C không? Ngoài ra cũng nên thử xem đã miễn nhiễm viêm gan A và B hay chưa? Xin hỏi bác sĩ để thử ngay nếu chưa thử bao giờ.

17. Nếu kết quả thử máu có Hepatitis B surface antigen HBsAg (dương tính) (positive), cần thử lại sáu tháng sau. Nếu vẫn dương tính, tức là đã bị viêm gan B.

18. Trong trường hợp viêm gan B cần theo dõi chức năng gan, lượng AFP (alpha-fetoprotein) trong máu mỗi sáu tháng, siêu âm gan mỗi một năm để truy tầm ung thư gan. Cũng nên gặp bác sĩ chuyên môn về gan để xem có cần chữa bệnh viêm gan B hay chưa?

19. Nếu không có HBsAg (âm tính), tức là chưa mắc bệnh, thì phải xem Hepatitis B surface antibody tức HbsAb xem có đủ cao hay không? Nếu trên 10, có nghĩa là đã được miễn nhiễm. Nếu âm tính hay thấp hơn 10, cần được tiêm phòng viêm gan B.

20. Với viêm gan C, nếu có Hepatitis C antibody tức HCV Ab dương tính, có thể đã bị viêm gan C, chứ không có nghĩa là đã được miễn nhiễm đâu. Nên gặp bác sĩ chuyên khoa gan ngay để thử nghiệm xem lượng vi khuẩn có cao không, chức năng gan còn tốt không và có phải chữa trị hay không?

21. Nếu đã bị chai gan vì bất cứ lí do nào, cần được theo dõi kĩ, được truy tầm ung thư gan với lượng AFP (alpha-fetoprotein) trong máu sáu tháng/ lần và siêu âm gan mỗi năm một lần dù cho không thấy có triệu chứng gì cả.

22. Nếu máu không có lượng kháng thể IGG hay Total Antibody của viêm gan A, thì chưa miễn nhiễm viêm gan A, nên nghĩ đến chuyện tiêm phòng, nhất là người đã bị viêm gan B hay C, để bảo vệ gan không bị hư hại thêm trong trường hợp nhiễm thêm viêm gan A. Cũng nên tiêm phòng nếu đi đến vùng có dịch.

23. Nên nhớ chưa có thuốc tiêm phòng viêm gan C. Do đó, nếu đã miễn nhiễm siêu vi A và B vẫn có thể bị nhiễm siêu vi C. Tránh những hành động có thể gây ra sự truyền nhiễm qua đường máu từ người này qua người khác như dùng kim tiêm, bàn chải đánh răng, dao cạo râu chung. Hãy dùng kim mới để tiêm, châm cứu, hay lễ giác, dùng đồng xu mới và riêng cho từng người để cạo gió.

24. Hãy sử dụng bao cao su khi giao hợp hay các biện pháp an toàn khác như tránh quan hệ tình dục với nhiều người.

25. Tránh uống rượu. Nếu đã bị viêm gan B hay C rồi thì tuyệt đối không uống rượu, bia.

(Theo nguoicaotuoi)

Wednesday, June 29, 2016

Bệnh ung thư phổi, nguyên nhân và cách điều trị

Dieutrigan.Org - Ung thư phổi là nguyên nhân hàng đầu gây ra tử vong vì bệnh ung thư trên nước Mỹ và khắp thế giới. Vào năm 2005, số người mới bị là gần 173 ngàn người, trong đó có 79 ngàn phụ nữ. Số người chết vì bệnh ung thư phổi là 163 ngàn, trong đó có khoảng 79 ngàn phụ nữ. Ðể hiểu rõ tầm quan trọng cuả tử vong vì ung thư phổi, ta hãy so sánh với ung thư vú. Số người đàn bà bị ung thư vú loại xâm lấn là trên 180,000 người nhưng số tử vong vì ung thư vú chỉ có 40 ngàn người. Số người chết vì ung thư phổi mỗi năm cao hơn tổng số người chết vì các ung thư ruột, ung thư vú và ung thư nhiếp hộ tuyến. Có thể nói là khi đã bị ung thư phổi, bệnh nhân sẽ có cơ hội tử vong cao nhất so với các ung thư khác. Ðây là lý do khiến các cơ quan y tế quốc gia cũng như Hội Ung Thư Việt Mỹ phải đặc biệt quan tâm đến vấn nạn ung thư phổi.

Có hai loại ung thư phổi chính là small cell hay oat cell tức loại ung thư phổi tế bào nhỏ, và non-small cell tức loại ung thư có tế bào không nhỏ. Cả hai loại ung thư phổi này đều nguy hiểm, nhưng cách lây lan, chữa trị và cơ hội sống còn khác nhau. Vì ung thư phổi thuộc loại tế bào nhỏ rất hiếm so với loại tế bào không nhỏ, tôi sẽ chỉ chú trọng đến loại tế bào không nhỏ (non-small cell) trong bài viết này. Một điều cần được nhấn mạnh là cả hai loại đều do thuốc lá gây ra.


1, Nguyên Nhân Chính Gây Ra Ung Thư Phổi: Thuốc Lá

Thuốc lá gây ra 90% những trường hợp ung thư phổi ở người nam và 78% ở người nữ. Cơ hội trung bình bị ung thư phổi cho những người hút thuốc lá là 1 trong 10 người sẽ bị ung thư phổi. Nhũng nghiên cứu về dịch tính cho thấy là ở những nơi người dân hút thuốc lá nhiều, số ngưòi bị ung thư phổi sẽ gia tăng. Thí dụ ở tiểu bang Kentucky, 33% nam giới hút thuốc lá và có 103 trên 100 ngàn người nam bị ung thư phổi mỗi năm. Ở Utah chỉ có 16% nam giới hút thuốc và chỉ có 45.8 trên 100 ngàn người nam bị ung thư phổi. Về phía phụ nữ, ở Nevada có 29.8% phụ nữ hút thuốc và tỉ lệ bị ung thư phổi là 45.8 trên 100 ngàn người. Ở Utah chỉ có 11.5% phụ nữ hút thuốc và tỉ lệ ung thư phổi chỉ có 13.9 trên 100 ngàn người. Như vậy, nếu chúng ta tránh thuốc lá, tỉ lệ bị ung thư phổi sẽ giảm đi rất nhiều. Thuốc lào cũng có những độc tố của thuốc lá, rất dễ ghiền, và đưa đến việc ghiền thuốc lá. Do đóÔ, Hội Ung Thư Hoa Kỳ cũng khuyên chúng ta không nên hút thuốc lào.

Những nguyên nhân khác có nguy cơ cao gây ra ung thư phổi gồm có chất asbestos và radon. Chất asbestos là chất dùng để cách điện và cách nhiệt và có nhiều trong những căn nhà xây thời xưa, hay tại các xưởng làm tàu. Chất này đặc biệt nguy hiểm cho những người hút thuốc lá vì cơ hội bị ung thư phổi sẽ tăng lên gấp bội. Do đó, những người đã có sự tiếp cận với asbestos lại càng phải tránh thuốc lá. Chất radon có trong những căn nhà ở một số vùng có thể có quặng mỏ radium. Cơ hội gây ra ung thư phổi do radium cao hơn người thường, nhưng rất ít so với thuốc lá. Tuy nhiên, người hút thuốc lá sẽ rất nhạy cảm với ảnh hưởng của radon. Một số người có yếu tố di truyền ở nhiễm sắc thể số 6 sẽ rất dễ bị ung thư phổi nếu họ hút thuốc. Những người đã từng được chữa trị bằng xạ trị vào vùng lồng ngực cho những ung thư như ung thư vú hay ung thư hạch loại Hodgkin cũng có cơ hội bị ung thư phổi cao hơn, nhất là nếu họ lại hút thuốc lá. Những nguyên nhân khác như hóa chất nơi làm việc, ô nhiễm không khí, v.v. cũng gia tăng cơ hội ung thư phổi nhưng rất thấp so với khói thuốc lá.

Tóm lại, nguyên nhân chính và có thể tránh được bệnh ung thư phổi là thuốc lá. Do đó, cai thuốc lá là điều quan trọng nhất trong việc chống lại ung thư phổi.


2, Triệu Chứng Ung Thư Phổi

Thông thường ung thư phổi không có triệu chứng gì cả, nhất là ở thời kỳ đầu tiên. Khi ung thư đã trở nên nặng hơn, bệnh nhân có thể có những triệu chứng như ho, khó thở, tức hay đau lồng ngực, ho ra máu, hay xuống cân. Nếu ung thư đã lây lan ra xương, ra gan, ra não, v.v., bệnh nhân có thể thấy đau nhức xương, đau bụng, đau lưng, nhức đầu, chóng mặt, lừ đừ, lẫn lộn, bị kinh phong, v.v..

3, Cách Chẩn Bệnh Ung Thư Phổi

+ Chụp hình phổi thông thường bằng X-quang (chest X-Ray), có thể nhìn thấy hình phổi hai chiều. 

+ Chụp CT Scan phổi: sử dụng vi tính và X-quang để thấy hình phổi ba chiều. Thấy nhiều chi tiết và chính xác hơn chụp phổi thường (X-Ray). 

+ Chụp PET Scan: sử dụng chất đường phóng xạ để đo lường sự hoạt động của các tế bào trong cơ thể. Tế bào ung thư hoạt động mạnh nhất, hấp thụ chất đường phóng xạ nhiều nhất, và sẽ thấy nổi lên nhiều nhất khi chụp. PET scan phải được lồng vào cùng với CT scan thì mới chính xác được (intergrated PET-CT Scan). 

+ Soi cuống phổi (bronchoscopy) là phương pháp nội soi bằng một ống đi vào cuống phổi để xem có bướu trong cuống phổi hay không, có bị nghẹt cuống phổi hay không, và bác sĩ có thể làm sinh thiết trong khi soi cuống phổi. 

+ Sinh thiết qua lồng ngực: nhiều khi, làm sinh thiết qua cuống phổi không được, bác sĩ phải làm sinh thiết qua lồng ngực dùng kim nhỏ theo hướng dẫn của CT scan (CT-guided needle biopsy) để đi vào đúng chỗ bị bướu. Một số tế bào từ bướu sẽ được rút ra và nhìn dưới kính hiển vi để định bệnh.

4, Cách Chữa Ung Thư Phổi

Cách chữa gồm có ba cách chính: giải phẫu, xạ trị và thuốc.

+ Chữa Bệnh Bằng Giải Phẫu (Surgery)

- Mổ mở ngực (thoracotomy): Lồng ngực sẽ được mở rộng ra bên cạnh sườn, lá phổi sẽ được làm xẹp tạm thời, và thùy phổi bị bệnh sẽ được cắt bỏ. Cùng lúc, những hạch phổi và hạch trung thất cũng được lấy ra để xem có bị lây lan hay không. 

- Mổ nội soi lồng ngực dưới sự hướng dẫn của video (video-assisted thoracosopy): lồng ngực cạnh sườn sẽ được mổ nhỏ để luồn ống soi video vào. Cách mổ này có thể mổ được tương tự như cách mổ lớn trong nhiều trường hợp. Vì vết mổ nhỏ, nên thời gian lành bệnh nhanh hơn.

Chữa Bệnh Bằng Xạ Trị (Radiation therapy/Radiotherapy)

Là cách dùng tia quang tuyến cực mạnh để đốt cháy tế bào ung thư. Tia sử dụng có thể là tia photon, electron, neutron hay proton. Những máy móc hiện đại sử dụng vi tính có thể giúp bác sĩ chuyên môn điều khiển tia xạ đến nơi bị bệnh một cách chính xác và giảm thiểu ảnh hưởng của tia xạ đến những mô bình thường chung quanh và giảm thiểu những phản ứng phụ.

Chữa Bệnh Ung Thư Phổi Bằng Hóa Chất (Hóa Trị, Hóa Chất Trị Liệu, Chemotherapy)

Những thuốc thường dùng:Cisplatin, Carboplatinum, Taxol, Taxotere, Etoposide, Vindesine, Navelbine, Gemcitabine, Topotecan, Irinotecan là những thuốc chích vào tĩnh mạch.

Phản Ứng Phụ có thể xảy ra, nhưng thường chỉ nhẹ và sẽ khỏi sau khi trị bệnh xong. Ngoài ra, có thuốc để chữa hay phòng ngừa một số những phản ứng phụ. Các bác sĩ chuyên trị ung thư sẽ tùy theo trường hợp cho những thứ thuốc để chống lại phản ứng phụ. Những phản ứng phụ thông thường nhất tùy theo loại thuốc có thể xảy ra, gồm có: 
Nôn mửa, ăn không ngon, bón, tiêu chảy 
Rụng tóc, tróc móng tay, móng chân 
Giảm năng lực 
Tay chân tê, đau nhức bắp thịt, khớp xương 
Thiếu bạch huyết cầu: dễ nhiễm trùng 
Thiếu hồng huyết cầu: mệt mỏi, tim đập nhanh, v.v.. 
Thiếu tiểu cầu: dễ bị chảy máu, vết đỏ hay bầm trên da 

Chữa Bệnh Bằng Thuốc theo Mục Tiêu (Targeted Therapy)

Hiện thời có hai thứ thuốc chữa theo mục tiêu là Iressa (Genfitinib) và Tarceva (Erlotinib) đã được cơ quan FDA chấp nhận dùng để chữa ung thư phổi loại non-small cell sau khi đã dùng ít ra một thứ thuốc khác. Iressa cũng được chấp nhận để dùng trước tiên trong việc chữa bệnh này. Ðây là những thuốc uống và có ít phản ứng phụ hơn hóa chất trị liệu thông thường. Hai thuốc này tác động vào mục tiêu là chất tyrosine kinase của yếu tố di truyền HER-1/EGFR. Tyrosine kinase gia tăng sự phát triển của mô biểu bì và gia tăng sự tăng trưởng của tế bào ung thư phổi vốn phát xuất từ mô biểu bì. Qua sự ngăn chặn hoạt động của tyrosine kinase trên sự phát triển biểu bì, Iressa và Tarceva có thể ngăn chặn sự phát triển của tế bào ung thư. Phản ứng phụ thông thường nhất của hai thuốc này là tiêu chảy và bị các phản ứng về da như mụn, ngứa, đỏ, lột da, hay đóng vảy. Những triệu chứng này thường rất nhẹ nhưng cũng có thể rất nặng và liều thuốc phải giảm đi hay ngưng hẳn. Một điều đáng chú ý là những bệnh nhân nào bị phản ứng về da, sẽ có cơ hội cao để thuốc có hiệu nghiệm.

Cách chữa tùy theo thời kỳ của bệnh

+ Thời kỳ I A (ung thư dưới 3 cm, chưa vào hạch): giải phẫu cắt trọn thùy phổi bị bệnh. Cơ hội chữa lành sau 5 năm là 60-80%. Nếu không mổ được vì bất cứ lý do gì, bệnh có thể chữa bằng xạ trị. Không cần hóa chất trị liệu cho thời kỳ này. 

+ Thời kỳ IB (ung thư 3-5cm, chưa vào hạch): giải phẫu cắt trọn thùy phổi bị bệnh. Cơ hội chữa lành sau 5 năm là 40-50%. Nếu không mổ được, có thể chữa bằng xạ trị. Ðối với bệnh nhân ở thời kỳ này, hóa chất trị liệu có thể gia tăng cơ hội sống còn toàn phần lên khoảng 15% cao hơn không có hóa chất. 

+ Thời kỳ II (ung thư lớn T3, hay đã vào hạch phổi, nhưng chưa vào hạch trung thất): Giống như IB. Cơ hội chữa lành 25-30% sau 5 năm 

+ Thời kỳ IIIA (ung thư đã vào hạch trung thất cùng bên): Sau hóa chất và xạ trị, mổ cắt trọn thùy phổi bị bệnh nếu được. Hóa chất trị liệu tiền giải phẫu và xạ trị có thể gia tăng cơ hội mổ được cho 60% bệnh nhân, và cơ hội sống được 3 năm cho những người này khỏang 25%. 

+ Thời kỳ IIIB (đã vào hạch trung thất bên kia): Cơ hội sống còn 5 năm 5-10%. Chữa bằng hóa chất trị liệu và xạ trị để giúp đỡ những triệu chứng bệnh và chỉ giúp gia tăng cơ hội sống còn 5-10%. Chữa bằng xạ trị cùng lúc với hóa chất, rồi đến hóa chất. Phương pháp giải phẫu không có hiệu quả. 

+ Thời kỳ IV (đã di căn): cơ hội sống còn 5 năm dưới 5%. Chữa bằng hóa chất trị liệu và xạ trị để giúp bớt những triệu chứng bệnh, chỉ giúp gia tăng cơ hôi sống còn rất ít. Giải phẫu không có hiệu quả. Trị liệu bằng thuốc Iressa hay Tarceva có thể giúp sồng lâu hơn nếu chịu thuốc.
Phát Hiện Sớm Ung Thư Phổi

Các nghiên cứu cho thấy chụp hình phổi thông thường không phải là cách tốt nhất để khám phá ra ung thư phổi ở thời kỳ sớm nhất. Các nghiên cứu đang đặt trọng tâm xem xét các phương pháp tốt nhất để truy tầm sớm ung thư phổi, thí dụ như Spiral CT Scan. CT scan có thể khám phá được ung thư phổi ở thời kỳ rất sớm. Tuy nhiên, chúng ta chưa biết là truy tầm ung thư phổi ở thời kỳ sớm có gia tăng cơ hội sống còn hay không. Vì lý do này, hiện thời các cơ quan y tế chưa có những lời khuyên về truy tầm sớm ung thư phổi cho các chương trình y tế cộng đồng. Tuy nhiên, nếu quý vị nào hút thuốc lá nhiều tức là có cơ hội bị ung thư phổi cao, và muốn truy tầm sớm (nhất là nếu quý vị có những triệu chứng như kể trên), xin nhờ bác sĩ cho chụp CT scan để định bệnh vì chụp hình phổi thường sẽ có cơ hội thấy ung thư rất thấp.

Ngừa Bệnh Hơn Chữa Bệnh

Chưa có thuốc gì hay thức ăn nào có thể ngừa ung thư phổi. Không nên lạm dụng những chất vitamin tức sinh tố. Thí dụ, chất Beta-carotene là tiền sinh tố A ở lượng cao có thể gia tăng cơ hội bị ung thư phổi. Cách tốt nhất để giữ cơ thể khỏe mạnh là ăn uống điều độ và ăn đủ loại thực phẩm vì mỗi loại thức ăn có những yếu tố dinh dưỡng khác nhau cần thiết cho cơ thể.

Ngưng hút thuốc lá có thể làm giảm nguy cơ ung thư phổi rất nhiều. Ngưng càng sớm càng tốt. Không hút thuốc lá là cách tốt nhất để ngừa ung thư phổi. Không nên hút thuốc lá. Xin đừng thử!

Chúng ta, mỗi người nên có ý thức ngừng hút thuốc khi còn chưa quá muộn!

Tuesday, June 28, 2016

Thực phẩm cho người bị chai và Ung thư gan

Dieutrigan.Org - Trong trường hợp này, khả năng hoạt động của gan đã bị suy giảm rất nhiều. Gan không còn cung cấp cho cơ thể đầy đủ những hóa chất và chất đạm. Khả năng loại bỏ chất độc, chất dơ và cặn bã trong người giảm dần. Áp xuất tĩnh mạch cửa tăng cao. Người bị chai gan vì thế dễ bị phù thủng. Nước ứ đọng trong người làm bụng sình trướng. Bệnh nhân thường đau bụng tiêu chảy, đi cầu ra máu hoặc đôi khi ói ra máu. Bụng đau lâm râm, không biết đói, thức ăn trở nên vô vị. Vấn đề dinh dưỡng bấy giờ cần phải kiểm soát một cách kỹ lưỡng với sự giám sát chặt chẽ của bác sĩ.


Người bị chai gan chỉ nên ăn dưới 2 grams muối mỗi ngày, nghĩa là ít hơn một thìa café muối. Một cách giản dị, đừng chấm thêm nước mắm, xì dầu hoặc rắc thêm mắm muối vào thức ăn đã được dọn ra bàn. Ăn quá mặn, nước sẽ ứ đọng trong cơ thể, sinh ra cổ trướng, phù thủng v.v. Ða số các bệnh nhân, vì thế, phải uống thêm thuốc lợi tiểu. Trong giai đoạn này, bệnh bắt đầu bước vào "vòng luẩn quẩn" không lối thoát. Uống quá ít nước cơ thể sẽ bị khô khan, áp xuất máu xuống quá thấp đưa đến chóng mặt, nhức đầu v.v. Uống quá nhiều nước, cơ thể bị phù thủng. Không uống thuốc lợi tiểu, nước sẽ ứ đọng lại trong bụng (cổ trướng), gây ra khó thở. Uống quá nhiều thuốc lợi tiểu, các chất điện giải (electrolytes) mất thăng bằng gây ra nhiều hậu quả không kém phần tai hại.

Ðể tránh bệnh loạn trí gây từ chai gan (hepatic encephalopathy), bệnh nhân nên giảm thiểu chất đạm từ động vật như thịt, cá, trứng gà/vịt, sữa. Không nên dùng quá 0.8 gram chất đạm từ động vật cho mỗi ký lô trọng lượng mỗi ngày. Ammonia từ chất đạm của thịt nếu tăng quá cao sẽ làm bệnh nhân trở nên mệt mỏi, buồn ngủ, thiếu minh mẫn, kém tỉnh táo và nếu nặng hơn loạn trí, hôn mê bất tỉnh. Mặt khác người ta nhận thấy chất đạm từ thực vật như đậu nành, đậu hũ dễ ăn hơn và có thể tránh được những hậu quả của bệnh loạn trí. Vì thế, người bị chai gan, nên ăn rau quả nhiều hơn thịt. Họ có thể ăn từ 70 đến 80 gram chất đạm từ thực vật mỗi ngày. Ăn nhiều rau còn mang lại một lợi điểạm khác không kém quan trọng. Ðó là bớt bón. Khi bị bón, các độc tố, trong đó có chất ammonia chế tạo từ vi trùng trong ruột già một cách nhanh chóng hơn. Ngoài ra, người ta cũng nhận thấy rằng, nếu ăn nhiều chất sơ, bệnh tiểu đường cũng có thể suy giảm.


Thuốc bổ cho người bị bệnh gan kinh niên:

Vitamin A: 10,000 đến 25,000 IU mỗi ngày
Vitamin D: 5,000 đến 8,000 IU mỗi ngày
Vitamin E: 50 đến 400 IU mỗi ngày
Vitamin C: 100 mg mỗi ngày
Các chất khoáng: một viên multivitamin loại ngày một viên
Calcium 1,000 đến 2,000 mg mỗi ngày

Thuốc bổ cho người bị chai gan:

Vitamin A: 10,000 đến 25,000 IU mỗi ngày
Vitamin D: 5,000 đến 8,000 IU mỗi ngày
Vitamin E: 50 đến 400 IU mỗi ngày
Vitamin C: 100 mg mỗi ngày
Các chất khoáng: một viên multivitamin loại ngày một viên
Calcium 1,000 đến 2,000 mg mỗi ngày
Vitamin K: từ 2.5 đến 5.0 mg mỗi ngày

Ngoài các loại thuốc bổ dùng cho người bệnh viêm gan kinh niên, bác sĩ có thể sẽ cho uống thêm Vitamin K từ 2.5 đến 5.0 mg mỗi ngày, nếu bệnh nhân có khuynh hướng chảy máu, hoặc các chất khoáng như Magnesium glunate, zinc sulfate v.v.

Người bị chai gan cần phải ăn thật nhiều chất sơ để tránh bị bón. Trung bình họ cần đi đại tiện ít nhất 2 đến 3 lần mỗi ngày. Một lần nữa điều này nhấn mạnh sự quan trọng của rau và trái cây trong việc trị bệnh nói chung và bệnh viêm gan nói riêng. Khi đi cầu nhiều lần trong ngày, phân thành hình trong ruột già sẽ bị "tống" ra ngoài một cách kịp thời, trước khi chúng bị lên men bởi vi trùng. Khi bị bón, các độc tố bài tiết từ các vi trùng có thể đi thẳng vào máu, làm tê liệt tế bào óc của người bị chai gan. Người ta cũng nhận thấy yogurt và sữa hoặc chất men Lactobacillus acidophilus nếu dùng đúng cách có thể hóa giải chất ammonia trong phân.

Tóm lại, thực phẩm cho người chai gan và ung thư gan trở nên rắc rối và phức tạp hơn nhiều so với dinh dưỡng cho người chỉ bị viêm gan trong những giai đoạn đầu. Bệnh nhân chai gan mất dần khả năng loại bỏ nhiều độc tố khác nhau trong cơ thể nên dễ bị ngộ độc. Thức ăn thông thường hằng ngày nay cũng có thể biến thành chất độc và trở nên nguy hiểm nếu ăn quá nhiều hoặc quá ít. Thực phẩm cần được lựa chọn kỹ lưỡng hơn, và cách thức cũng như giờ giấc ăn uống cũng phải thay đổi vì cơ thể người bị chai gan yếu dần. Họ thường cảm thấy uể oải, thiếu sinh lực, ăn không ngon, bụng không đói, miệng không thèm ăn, phần vì ăn không tiêu, phần vì mùi vị thức ăn thơm ngon ngày xưa nay trở nên khó chịu, lợm giọng buồn nôn. Bệnh nhân vì thế nếu không được chữa trị đúng cách, sẽ lìa trần sớm hơn. Sau đây là một vài phương pháp có thể giúp người bị chai gan thoải mái hơn trong vấn đề ăn uống hằng ngày.
  1. Nếu thận hoạt động tốt và chưa bị phù thủng hoặc sưng cổ trướng, người bệnh nhân viêm gan nên uống thật nhiều nước, càng nhiều càng tốt. Nên tránh uống rượu bia hoặc các loại nước chứa đựng chất caffeine như coffee, trà đen, Coke, Mountain Dew v.v. Caffeine với đặc tính loại tiểu dễ làm cơ thể mất nước hơn. Tuy nhiên nếu quý vị đang uống thuốc lợi tiểu như Lasix, Aldactone v.v. xin quý vị tham khảo ý kiến bác sĩ.
  2. Nên chọn lựa thức ăn hợp với khẩu vị. Không nên cưỡng ép ăn uống những thực phẩm không hợp với cơ thể, như uống sữa Ensure để rồi sau đó bị lình sình bụng suốt ngày và không ăn uống được gì nữa.
  3. Ðể tránh nôn ói, hoặc để ăn ngon miệng hơn, nên ăn thành nhiều bữa trong ngày. Mỗi lần một ít. Nên ăn nhiều hơn vào buổi sáng. Một ít bánh nhạt, một tí nước ngọt có thể thuyên giảm những cảm giác nôn nao khó chịu hoặc lợm giọng buồn nôn.
  4. Vì người chai gan dễ bị viêm bao tử (gastritis), nên thức ăn quá mặn, quá cay, quá chua có thể làm họ đau bụng, khó tiêu sau mỗi bữa cơm. Nên tránh các loại thức ăn kể trên. Ngoài ra nên tránh thức ăn quá nhiều dầu mỡ hoặc quá nhiều gia vị. Mùi vị nồng nặc của một số thức ăn có thể giảm đi nếu để lạnh hoặc nguội trước khi dùng. Nên nấu thức ăn nơi thoáng khí, hoặc dùng máy hút hơi hữu hiệu, để giảm thiểu sự buồn nôn có thể gây ra từ khói cay hoặc hương vị khó chịu trong lúc nấu nướng. Hấp và luộc thức ăn cũng như nấu bằng microwave trong các túi nylon cột kín sẽ giảm đi phần lớn sự ngào ngạt nặng mùi trong lúc nấu nướng.
  5. Người chai gan có thể lúc nào cũng cảm thấy mệt mỏi. Tuy nhiên họ có thể sẽ khỏe hơn khi ăn "chay" một vài bữa với thật nhiều đậu nành, đậu hũ cũng như các loại trái cây không quá chua. Nếu đau bụng sau khi ăn hoặc khi bụng quá đói, xin liên lạc với bác sĩ của quý vị, vì đây có thể là triệu chứng của loét lở bao tử. Nếu thức ăn quá chua làm đau bụng, quý vị có thể uống thuốc Prelief kèm với thức ăn có nhiều chất chua.
  6. Khi bệnh nặng hơn, thức ăn chứa đựng nhiều dầu mỡ có thể trở nên khó tiêu. Một số thuốc men có thể giúp đỡ trong những trường hợp này.

Thuốc bổ gan

Nói đến dinh dưỡng chúng ta không thể không đề cập đến thức ăn và cỏ cây dùng trong việc chữa bệnh và phòng ngừa bệnh tật. Người ta vẫn cho rằng, ăn gì bổ nấy. "Ăn gan, bổ gan. Ăn óc, bổ óc". Tiếc thay câu này không được đúng cho lắm. Gan tuy chứa đựng nhiều chất đạm và khoáng chất khác nhau, tiêu thụ nhiều gan có thể làm gan bị hư hại nhanh chóng hơn.

Trong thế kỷ vừa qua, song song với lối chữa trị chính thống Tây Y, khuynh hướng chữa bệnh theo những phương thức khác biệt (alternative medicine) tại Hoa Kỳ gia tăng một cách nhanh chóng. Phương thức này bao gồm tất cả những lối chữa trị không dựa theo lý thuyết truyền thống y khoa Tây phương. Thí dụ điển hình như châm cứu (acupuncture), bấm huyệt (acupressure), chỉnh xương (chiropractic medicine), đấm bóp (massage), yoga, dinh dưỡng trị liệu, tập dưỡng sinh, dược thảo (herbal medicine), trị liệu đồng căn (homeopathy, một hệ thống y khoa dựa trên lý thuyết "lấy độc trị độc") v.v. Và như thế, vào năm 1997, công dân Mỹ đã chi khoảng 21.2 tỷ Mỹ Kim cho những phương pháp khác biệt này.
Nếu chỉ nói riêng về "dinh dưỡng trị liệu ngoại phương" (alternative nutritional therapy), vào năm 1996 trên nước Mỹ các chợ bán "thực phẩm dinh dưỡng" ("health food" stores) mọc lên như nấm với gần 10,000 tiệm giải rác khắp nơi trên toàn lãnh thổ. Số nhuận lợi lên đến 7.6 tỷ Mỹ kim mỗi năm, trong đó có 3 tỷ Mỹ kim chỉ dành riêng cho các loại thuốc bổ. Theo nhiều cuộc nghiên cứu khác nhau, ít nhất 40% bệnh nhân viêm gan kinh niên tại Hoa Kỳ, đã và đang chữa trị bằng một trong những phương pháp kể trên, trong đó dinh dưỡng trị liệu đã và đang đóng một vài trò cực kỳ quan trọng.

Thật ra, tất cả thức ăn và nước uống hằng ngày của chúng ta đều mang lại không ít thì nhiều một số hóa chất có đặc tính chữa bệnh. Những triệu chứng của bệnh cảm cúm chẳng hạn, có thể được thuyên giảm phần nào bằng một tô cháo hành nhiều tiêu hoặc một ly trà nóng với ít chanh và mật ong hoặc pha với quế v.v. Hơn nữa, mỗi một loại gia vị dùng trong việc nấu nướng có thể được xem như một loại dược thảo với đặc tính thuyên giảm một hay nhiều triệu chứng nào đó. Thí dụ điển hình như ngũ vị hương, bột cà ri, hồi, ngò, húng, quế, xả, ớt, hành, tỏi v.v. Và như thế, trong mỗi lần ăn uống, chúng ta sẽ cung cấp cho cơ thể một số nhiên liệu cũng như một số dược thảo. 
Vì thế, người Việt có khuynh hướng phân biệt thực phẩm thành hai loại. Thức ăn "nóng" và thức ăn "mát". Khi gan bị nóng, dùng thức ăn "mát" sẽ giúp gan đỡ viêm hơn. Thí dụ điển hình cho thức ăn "mát" để trị bệnh "nóng" gan là artichoke, nói theo tiếng Pháp là artichaud. Một số nhà vạn vật thiên nhiên cho rằng artichoke dự trữ nhiều chất cynarin với khả năng bảo vệ và duy trì tế bào gan. Họ cũng tin rằng chất hóa học này có khả năng kích thích sự di chuyển của chất mật tiết từ gan xuống túi mật. Vì thế, một viện bào chế dược phẩm Pháp đã sản xuất và bầy bán thuốc artichoke với tên là Chophytol. Tuy nhiên, công hiệu của artichoke trong việc chữa trị bệnh viêm gan chưa được chứng minh và công nhận bởi cơ quan FDA và Hội Y-Sĩ Ðoàn Hoa-Kỳ.

Vì đây là một thức ăn rất "lành", nên theo tôi nghĩ, quý vị vẫn có thể tiếp tục nấu lấy nước mà uống. Trái artichoke ăn ngon miệng, nên nếu không giúp được chữa bệnh, cũng mang lại cho chúng ta những giây phút thoải mái trong lúc thưởng thức món ăn tinh khiết này.

Một loại thuốc khác rất thịnh hành trong cộng đồng người Việt là Sulfarlem. Thuốc này có tên hóa học là anetholtrihione do viện bào chế Solvay Pharma sản xuất. Dựa theo tài liệu của hãng thuốc này, Sulfarlem là một loại thuốc có khả năng kích thích chức năng tiết chất mật của gan (biliary function stimulant) và được dùng trong việc điều trị những triệu chứng liên quan đến rối loạn tiêu hóa (digestive problems) và trong trường hợp khô miệng vì tuyến nước bọt không bài tiết đầy đủ. Tuy họ không hề đề cập đến khả năng chữa trị bệnh viêm gan, rất nhiều bệnh nhân vẫn uống thuốc này hàng ngày, với hy vọng là gan của họ sẽ bớt bị "nóng". Thuốc này cũng không được FDA công nhận trong việc chữa trị bệnh viêm gan và không được dùng trong trường hợp có sạn trong túi mật.

Một trong những thức ăn khác rất thịnh hành trong dân gian dùng để chữa trị bệnh viêm gan là tỏi. Tỏi với hai chất hóa học germanium và selenium vẫn được xem như một chất thiên nhiên có khả năng tẩy độc, khử trùng và làm các mạch máu dẻo dai hơn. Tiếc thay, tỏi vẫn chưa được chứng minh một cách khoa học về công dụng chữa bệnh sưng gan. Hơn nữa trong tỏi có rất nhiều chất Sulfur, nên nếu ăn quá nhiều tỏi, chúng ta có thể bị ngộ độc, da bị nổi ngứa, đau bụng, tiêu chảy, đôi khi đi cầu ra máu hoặc làm tuyến giáp trạng thay đổi bất thường.

Thảo dược

Vào năm 1994, dưới áp lực mãnh liệt của dân chúng, chính phủ liên bang Hoa Kỳ đã thông qua đạo luật với tên là Dietary Supplement Health and Education Act. Trong đạo luật này, thảo mộc được xếp vào loại "thức ăn bổ túc" ("food supplements"); và các viện bào chế dược thảo được phép sản xuất và bầy bán thuốc trên thị trường một cách dễ dàng, mà không phải trải qua những cuộc thử thách khó khăn như trong trường hợp của các loại thuốc tây. Họ chỉ đòi hỏi là hãng bào chế phải bảo đảm với người tiêu thụ là thuốc không gây ra phản ứng phụ. Vì được xem là một loại thức ăn, các loại thuốc cỏ cây này không bắt buộc phải theo một quy luật nhất định. Họ có thể thay đổi chất lượng và hình thù của thuốc bất cứ lúc nào mà không cần phải trải qua những thủ tục hành chánh rất phức tạp chỉ dành riêng cho các loại thuốc tây. Chính phủ chỉ đưa ra một điều kiện độc nhất là khi bán thuốc, họ không được phép công bố là thuốc của họ có thể "chữa dứt bệnh" ("cure") cho bất cứ một triệu chứng hay một căn bệnh nào. Vì thiếu sự kiểm soát khắc khe của Cơ Quan Thực và Dược Phẩm (Food and Drug Administration viết tắt là FDA), chất lượng và phẩm chất của các loại thuốc này không được đồng nhất và có thể thay đổi rất nhiều từ hãng thuốc này qua hãng thuốc nọ.

Dựa theo cuộc nghiên cứu về thuốc sâm bày bán trên nước Mỹ của tờ Consumer Reports, nhiên liệu chính của sâm là chất ginsenosides thay đổi từ 3 đến 23.2 mg trong mỗi viên thuốc tùy theo viện bào chế. Ðiều này có nghĩa là quý vị phải uống 10 viên thuốc sâm của hãng này mới có công hiệu của một viên thuốc của hãng kia.
Cũng trong một cuộc nghiên cứu tương tự về thuốc dehydroepiandrosterone (DHEA), người ta khám phá ra trong số 16 hãng bào chế thuốc này, có 3 hãng hoàn toàn không chứa một tý thuốc nào trong những viên thuốc của họ, 4 hãng khác chứa ít hơn 80% chất thuốc đã liệt kê, và một hãng khác chứa 150% nhiều hơn lời khai trên chai thuốc. Vì thế, khi uống thuốc cỏ cây, không những chúng ta phải tự hỏi về khả năng chữa trị bệnh của thuốc mà còn phải nghiên cứu về phẩm chất và số lượng của viên thuốc mà chúng ta sắp uống. Tiếc thay, điều này nói thì dễ, làm thì khó, nên đa số bệnh nhân khi uống thuốc cỏ cây, thường "nhắm mắt uống đại", mà người Mỹ vẫn thường nói: "Take it at your own risks".

Có lẽ thuốc đã và đang được nhiều người dùng nhất để chữa trị bệnh viêm gan là Milk Thistle. Chất hóa học chính trong loại cỏ gai này là silymarin, một loại dược thảo đã được dùng trong hơn 2000 năm qua. Từ thời trung cổ, người Hy Lạp đã dùng thuốc này để "lọc gan" ("liver cleanser"). Thuốc được rút tỉa từ rễ và các hạt của loài cỏ với tên thảo mộc là silibum marianum.

Các nhà sản xuất milk thistle cho rằng chất silymarin có khả năng bảo vệ gan không bị tàn phá bởi nhiều độc tố khác nhau, nhất là trong trường hợp ngộ độc với nấm Amanita phaloides và trong trường hợp viêm gan vì nghiện rượu quá nhiều trong một thời gian quá lâu. Dựa theo kết quả của 16 cuộc nghiên cứu trên toàn thế giới về công dụng của milk thistle, người ta nhận thấy, phân hóa tố ALT và chất mật bilirubin có khuynh hướng giảm xuống sau một thời gian chữa trị bằng chất silymarin. Tuy nhiên, không một cuộc nghiên cứu nào có thể chứng minh một cách cụ thể về khả năng chống lại sự tàn phá của vi khuẩn viêm gan B và C. Tuy hãng bào chế thuốc thường khẳng định là thuốc không có phản ứng phụ, bệnh nhân thường hay đau bụng, tiêu chảy và buồn nôn sau khi uống thuốc.

Một loại thuốc thứ 2 thường được dùng để chữa trị bệnh viêm gan là thymosin, một chất kích thích tố lấy từ tuyến ức (thymic glands). Người ta cho rằng chất hóa học này có thể gây ảnh hưởng trực tiếp đến hệ thống miễn nhiễm bằng cách kích thích những bạch huyết cầu tăng trưởng nhanh chóng hơn. Chất interferon sẽ được chế tạo một cách đắc lực hơn. Trong 2 cuộc nghiên cứu khác nhau, thuốc thymosin đã mang lại một số kết quả tương đối khả quan trong việc chữa trị bệnh viêm gan B nếu so sánh với thuốc bột (placebo). Trong một cuộc nghiên cứu thứ 3, thuốc thymosin hoàn toàn không có hiệu lực nếu so sánh với thuốc interferon. Tuy FDA vẫn chưa cho phép dùng thymosin trong việc chữa trị bệnh viêm gan B và C, nếu dùng chung với thuốc interferon, kết quả chữa trị có thể tốt đẹp hơn.

Ngoài những thuốc điển hình kể trên, hàng trăm loại thuốc cỏ cây, củ hột khác nhau đã và đang được bày bán dưới nhiều tên hiệu khác nhau. Chúng có thể được bán riêng biệt hoặc trộn chung với các dược thảo khác. Từ sụn cá mập đến dầu cá thượng đẳng DHA, từ sâm cao ly đến cao hổ cốt, từ trái nhầu Noni đến Pentaphi, từ nấm Shitake đến Huang Qi v.v. Và như thế, mỗi năm công dân Hoa Kỳ chi khoảng 6 tỷ Mỹ kim cho các loại thuốc "thiên nhiên" này. Người Việt Nam chúng ta còn uống thêm các loại thuốc Bắc, thuốc Nam khác nhau. Ða số là các loại thuốc gia truyền với nhiều công thức và cách thức pha chế hoàn toàn bí mật, nên thiếu những nghiên cứu khoa học và kiểm soát lâu dài.

Phản ứng phụ của thảo dược:

Tuy thuốc được xem là "thức ăn nước uống", chúng cũng có thể gây ra những tác dụng sinh lý (physiologic activity) trên cơ thể chúng ta như tất cả những loại thuốc tây khác. Vì thế, ngoài những phản ứng chính, chúng sẽ mang lại một số phản ứng phụ. Ða số các phản ứng phụ này, lệ thuộc vào số lượng thuốc mà bệnh nhân đã và đang uống. Vì không nằm dưới sự kiểm soát của FDA, một số dược thảo có thể bị ô nhiễm bởi nhiều chất kim loại nặng (heavy metals), thuốc diệt sâu bọ và côn trùng (herbicides and pesticides) phát nguồn từ những cỏ cây, củ hạt mà thuốc đã được chiết xuất. Do đó, một số thuốc cỏ cây có thể gây ra những phản ứng phụ bất thường, khó hiểu hoặc tàn phá cơ thể từ từ trong một thời gian dài lâu, gây ra quái thai hoặc ung thư. Thêm vào đó, một số dược thảo cũng có thể thay đổi tác dụng hoặc tăng trưởng các phản ứng phụ của thuốc tây. Vì thế, một lần nữa, dược thảo tuy được đặc chế từợ những cỏ cây rất "thiên nhiên", chúng có thể gây ra những phản ứng phụ rất trầm trọng.

Dựa theo tờ JAMA (Journal of the American Medical Association) đăng vào tháng 11 năm 2004, khoảng 20% của 70 loại thuốc cỏ cây bào chế tại Á Châu bầy bán tại Boston đã chứa quá nhiều những kim loại nặng như chì, mercury và arsenic. Vì thế, cũng theo bài báo này, họ đã đưa ra lời khuyên là tất cả bệnh nhân đang uống các loại thuốc cỏ cây nên đi thử máu để xem có bị trúng độc vì những kim loại nặng này hay không.

Ðể biết thêm chi tiết và những khuyến cáo về các loại thuốc cỏ cây quý vị có thể vào những trang sau đây - Tài liệu tiếng Anh:
1) www.herbalgram.org
2) www.herbs.org
3) nccamc@altmedinfo.org
Dựa theo bản tin chính thức của Hội Tiêu Hóa Hoa Kỳ (American Gastroenterological Association AGA) phát hành vào tháng 2 năm 2001, phản ứng phụ và các biến chứng của thuốc dược thảo không phải tầm thường và nhỏ nhoi như người ta vẫn tưởng. Cũng theo bản tin này, trong một cuộc nghiên cứu với khoảng 2,700 cuộc nhập viện tại Ðài Loan, hơn 4% tổng số bệnh nhân đã phải chữa trị tại nhà thương vì những phản ứng phụ gây ra bởi thuốc men, trong đó dược thảo đứng hàng thứ ba. Một bản tường trình khác cho biết, trong số 1,700 bệnh nhân nhập viện tại Hồng Kông, khoảng 34 người đã phải vào nhà thương vì phản ứng gây ra từ thuốc Tầu (Chinese herbal regimens). Tại Anh Quốc, dựa theo một thống kê kéo dài hơn 8 năm, hơn 1,000 trường hợp bệnh tật liên quan đến dược thảo đã xẩy tại nhiều thành phố khác nhau. Vì thế, AGA đã đưa đến kết luận là tuy dược thảo được xem là rất an toàn, một số thuốc cỏ cây có thể mang đến nhiều phản ứng phụ tai hại.



Tóm lại, có lẽ tất cả các loại thức ăn hay dược phẩm đều có khả năng bồi bổ cơ thể của chúng ta không ít thì nhiều, không bằng cách này thì bằng cách khác. Nhưng sự bồi bổ và khả năng trị bệnh của thức ăn và dược thảo cần được nghiên cứu kỹ càng và một cách khoa học hơn để tránh việc "tiền mất, tật mang".

Một lần nữa, nếu thức ăn hoặc cỏ cây được dùng trong việc chữa bệnh, chúng phải được xem như một loại thuốc với tất cả những phản ứng chính và phụ. Trước khi được bầy bán trên thị trường, tất cả các loại thuốc tây phải trải qua những cuộc nghiên cứu vô cùng phức tạp và tỉ mỉ do Bộ Thực và Dược Phẩm (FDA) đặt ra và kiểm soát. Vì các loại thuốc cỏ cây vẫn được xem như thực phẩm nên chưa được kiểm xoát một cách kỹ lưỡng. Và như thế những hiệu quả và hậu quả lâu dài của đa số các loại thuốc này vẫn chưa được sáng tỏ và cần được suy xét kỹ lưỡng hơn.


Nguồn V.A.C.F

Friday, June 10, 2016

Nguy cơ ung thư gan từ món tương truyền thống

Đó là đánh giá của GS Nguyễn Lân Dũng, ông cho biết: việc làm tương bằng cách lên men tự nhiên không giặt nong có thể gặp nấm Aspergillus flavus - loại nấm sinh ra độc tố aflatoxin 1 chất gây ung thư.

 

Cách làm tương sinh ra quá nhiều loài vi nấm 

Giáo sư Nguyễn Lân Dũng cho biết, hiện nay, số người mắc bệnh ung thư của chúng ta tăng lên một cách đáng sợ. Trong rất nhiều nguyên nhân có một nguyên nhân mà dường như ai cũng biết nhưng vì không có cách nào lựa chọn nên người dân vẫn phải chấp nhận.

Đó là: Chúng ta đang phải ăn những thứ chưa được đảm bảo về an toàn vệ sinh thực phẩm. Ngoài thuốc trừ sâu, thuốc tăng trọng lợn (Salbutamol) thì đã quá rõ nhưng còn một thứ đáng xem xét vì có thể đang tiềm ẩn một nguy cơ đáng sợ. Đó là tương lên men tự nhiên.

Chúng ta biết rằng người Nhật thường xuyên sản xuất rượu Sake nhưng loại vi nấm dùng để đường hoá gạo trong quy trình sản xuất bao giờ cũng là chủng vi nấm Aspergillus oryzae do các nhà khoa học cung cấp.

Về hình thái thì hai loài Aspergillus oryzaeAspergillus flavus hết sức giống nhau. Ngay các chuyên gia về Nấm học cũng rất khó phân biệt qua kính hiển vi (phải phân loại nhờ phương pháp giải trình tự ADN).

Giáo sư Nguyễn Lân Dũng cho biết, ở Việt Nam có món tương bần ẩn chứa nhiều nguy cơ nhiễm nấm Aspergillus flavus, là loài có thể sản sinh ra độc tố aflatoxin gây ung thư nếu quá trình làm không đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm.

Giáo sư Dũng từng có lần về một cơ sở sản xuất tương truyền thống. Khi quan sát quy trình lên men xôi từ các nong trước đó chưa giặt thì ông ngỡ ngàng phát hiện thấy trên xôi có rất nhiều loài vi nấm khác nhau với đủ loại màu sắc.

Những loại màu vàng của có thể là mốc tương (Aspergillus oryzae) nhưng cũng có thể là loài Aspergillus flavus.

Về lý thuyết cách làm tương là ngâm gạo nấu thành xôi sau đó đổ vào nong, chờ lên nấm mốc (đúng hơn nên gọi là vi nấm).

Loài vi nấm tốt nhất là loài Aspergillus oryzae. Loài này sinh ra cả men amylase chuyển hoá tinh bột thành đường và sinh ra men proteinase chuyển hoá protein thành acid amin hay các peptid phân tử ngắn.

Tuy nhiên nếu không giặt nong thì bào tử vô vàn loài vi nấm lưu cữu trên nong sẽ mọc lên và rất có khả năng trong đó có loài Aspergillus flavus gây ung thư.

Cần quan tâm đến chất lượng của món ăn truyền thống

Giáo sư Dũng đã đề nghị một bà chủ nổi tiếng về làm tương ở 1 làng làm tương truyền thống cho phép giặt nong để tự làm thử một mẻ bằng giống Aspergillus oryzae thuần chủng.

Bà cụ nhìn ông một cách ngạc nhiên và nói: “Ông không biết tôi làm tương từ mấy đời nay rồi à?”. Sau khi giáo sư Dũng đảm bảo nếu làm hỏng thì sẽ đền bù toàn bộ bà mới cho làm.

Cán bộ đi cùng giáo sư đã giặt nong sạch sẽ, dàn xôi lên rồi lấy gói bào tử nấm Aspergillus oryzae để rắc lên bề mặt nong xôi. Đoàn ra về và để lại số điện thoại của giáo sư Dũng.


Mấy hôm sau bà cụ điện thoại lên và cho biết mốc mọc rất đều và ngả vào với nước ngâm đậu tương rang rồi. Kết quả mẻ tương ấy rất ngon và bảo đảm an toàn vì không lẫn bất kỳ loài vi nấm nào khác.
Điều đáng chú ý là bào tử nấm Aspergillus oryzae sẽ bay khắp phòng nên chỉ cần cấp giống một lần là các mẻ sau loài vi nấm này sẽ chiếm ưu thế và không cần cấy thêm giống nấm gốc nữa.

Nhận thấy tầm quan trọng của một món ăn truyền thống, giáo sư Dũng đã gửi thư cho giáo sư Bộ trưởng Bộ Y tế đề nghị cho kiểm tra độ tố Aflatoxin trong tương bán trên thị trường.

Nếu không có Aflatoxin thì không sao, nhưng nếu quá nhiều mẫu phát hiện có độc tố này thì phải buộc các nhà làm tương phải thực hiện quá trình giặt nong sạch sẽ và cấy chủng nấm Aspergillus oryzae do các nhà khoa học cung cấp.

Các gói bào tử loài vi nấm này sản xuất rất dễ và giá tiền chả đáng là bao vì chỉ cần dùng một hai lần là đủ có số bào tử lưu cữu trong khắp không gian khu để xôi mọc mốc. Bộ trưởng Bộ Y tế đã trả lời sẽ cùng các cơ quan chuyên môn quan tâm đến đề nghị này.


Nguồn soha

Tuesday, June 7, 2016

Phương pháp điều trị ung thư biểu mô tế bào gan

Cần nhấn mạnh rằng ung thư biểu mô tế bào gan là kết quả của một trong các tổn thương ác tính thách thức nhất, mang tầm quan trọng trên toàn thế giới 


Ung thư biểu mô tế bào gan là bệnh ung thư phổ biến thứ 5 trên toàn thế giới và đứng thứ 3 của tỷ lệ tử vong do ung thư và tỷ lệ mắc sẽ tăng thêm và đạt tới đỉnh điểm vào năm 2015-2020. 

Lịch sử tự nhiên của bệnh đó được biết khá rõ, ngoại trừ bệnh giai đoạn sớm bởi vỡ phần lớn bệnh nhân ở giai đoạn này được điều trị khỏi hoàn toàn. Mặc dù với sự tiến bộ về điều trị, thời gian sống thêm toàn bộ của bệnh ung thư gan không cải thiện có ý nghĩa trong hai thập kỷ vừa qua. 

Trong phần lớn các trường hợp ung thư gan đều phát sinh từ xơ gan, vỡ vậy, tiên lượng của ung thư gan không chỉ phụ thuộc vào giai đoạn bệnh mà cũng phụ thuộc vào cả chức năng gan. Hệ thống chia giai đoạn là chìa khóa để dự báo tiên lượng bệnh nhân ung thư, để phân loại bệnh nhân theo các mức độ tiên lượng khác nhau trong sự sắp đặt thử nghiệm lâm sàng và để hướng dẫn cách điều trị. Tuy nhiên, kiến thức hiện tại về bệnh không đủ để giới thiệu một hệ thống phân giai đoạn được sử dụng rộng rãi trên toàn thế giới. Hệ thống chia giai đoạn kinh điển - giai đoạn Okuda và giai đoạn TNM đó cho thấy cỏc hạn chế quan trọng để phân loại bệnh. Gần đây nhiều hệ thống mới đó được đề nghị, nhưng chỉ có 3 hệ thống có giá trị. Sự phân chia giai đoạn theo Hội ung thư gan lâm sàng Barcelona (BCLC) liên kết giai đoạn bệnh với một chiến lược điều trị đặc biệt. Thang điểm chia giai đoạn hợp nhất Nhật Bản (JIS) đó được đề nghị và được sử dụng ở Nhật Bản, mặt dù nó cần sự phê chuẩn của Phương Tây. Thang điểm ung thư CLIP chủ yếu được đề cập đối với các khối u giai đoạn muộn. 

Forner và cs đưa ra một phân loại giai đoạn mới, trong đó ung thư gan được chia thành 4 nhóm chính và có liên hệ tự phát với điều trị. Ở giai đoạn sớm, khối u đơn lẻ, không có triệu chứng, đường kính tối đa 5cm hoặc có trên 3 nốt, mỗi nốt< 3cm. Sự phỏt hiện sớm ung thư biểu mô tế bào gan qua các chương trỡnh sàng lọc. Giai đoạn này điều trị có hiệu quả bao gồm phẫu thuật, ghép gan và cắt qua da. Giai đoạn trung bỡnh khi khối u vượt quá giới hạn giai đoạn sớm, nhng không có triệu chứng ung thư và xâm nhập mạch hoặc lan ra ngoài gan và có thể giảm đau được bằng tắc mạch bằng hóa chất. Các bệnh nhân có triệu chứng ung thư nhẹ và/hoặc xâm nhập mạch hoặc lan ra ngoài gan được xếp vào giai đoạn muộn. Giai đoạn này điều trị bệnh không hiệu quả và bệnh nhân chỉ có thể được hưởng lợi từ liệu pháp điều trị mới qua thử nghiệm lâm sàng được kiểm sóat ngẫu nhiờn. Giai đoạn cuối là các bệnh nhân có triệu chứng ung thư nghiêm trọng hoặc các khối u lớn và chỉ có thể điều trị triệu chứng.


Khả năng áp dụng các phương pháp điều trị này khác nhau phụ thuộc vào sự phân bố địa lý: từ 20-70% cỏc trường hợp ở Nhật Bản, 25-40% ở các trường hợp ở Châu Âu và Mỹ, <10% ở Châu Phi. Không có các thử nghiệm được kiểm soát ngẫu nhiên so sánh với 3 phương pháp điều trị chính. Cắt và ghép gan đạt kết quả tốt nhất ở các bệnh nhân được lựa chọn kỹ (thời gian sống 5 năm từ 60-70%) và cạnh tranh như một sự tối ưu nhất với triển vọng điều trị trúng đích. Điều trị qua da mang lại kết quả tốt (thời gian sống 5 năm từ 40-50%) nhưng không thể đạt được tỷ lệ đáp ứng và kết qủa có thể so sánh với điều trị phẫu thuật, ngay cả khi được áp dụng như một sự tối ưu nhất. 

Sự phẫu thuật nhiệt bằng sóng radio mang lại  tỷ lệ đáp ứng tốt hơn một ít so với tiêm cồn, nhưng không tốt hơn về thời gian sống thêm đó được chứng minh hoàn toàn. Các phương pháp điều trị cũn lại đó được đánh giá trong khoảng 70 nghiên cứu thử nghiệm được kiểm soỏt ngẫu nhiên được thực hiện trong 25 năm qua. Gây tắc mạch bằng hóa chất đó cho thấy mang lại kết quả tốt trong thời gian sống thờm ở 2 thử nghiệm lõm sàng được kiểm soỏt ngẫu nhiờn và một dị phõn tớch và hiện tại là phương pháp điều trị chính trong 10% các bệnh nhân ung thư biểu mô tế bào gan. Các đối tượng lý tưởng đối với sự tối ưu này là các bệnh nhân với chức năng gan được bảo tồn tốt (Child-pugh lớp A) và các khối u đa ổ không có triệu chứng không có xâm nhập mạch. Các thử nghiệm lâm sàng được kiểm sóat ngẫu nhiên hơn nữa cần để đánh giá các thuốc hóa chất tốt nhất và phương thức điều trị lại lý tưởng. Không có sự tối ưu nhất đối với các bệnh nhân có ung thư biểu mô tế bào gan giai đoạn muộn (xâm nhập mạch máu, lan tràn ra ngoài gan hoặc các triệu chứng liên quan tới ung thư). 

Điều trị doxorubicin toàn thân cung cấp sự đáp ứng một phần ở 10% các trường hợp, không có cải thiện thời gian sống thêm, và các biến chứng liên quan tới điều trị được biết rõ. Nhiều loại điều trị khỏc như liệu phỏp miễn dịch, xạ trị trong, tamoxifen hoặc cỏc thuốc chống oxy hóa không cho thấy hiệu quả chống khối u rõ ràng hoặc cải thiện thời gian sống thờm. Các thuốc mới như chất ức chế tyrosine kinase và các thuốc chống tạo mạch đang được kiểm tra trong cỏc thử nghiệm lâm sàng.

Tại hội nghị hàng năm của hội ung thư lâm sàng Mỹ đó giới thiệu kết quả thử nghiệm lâm sàng được kiểm soát placebo ngẫu nhiên giai đoạn 3 là Sorafenib đó chứng minh cải thiện thời gian sống của các bệnh nhân ung thư gan giai đoạn cuối. Nghiên cứu nổi bật này giới thiệu thuốc đầu tiên đó chứng minh lợi ích sống thêm được cải thiện và đưa ra tiêu chuẩn mới cho sự lựa chọn hàng đầu đối với ung thư gan giai đoạn muộn. 

Tài liệu tham khảo

1.    Forner A, Hessheimer AJ, Isabel Real M, Bruix J (2006):Treatment of hepatocellular carcinoma. Crit Rev Oncol Hematol. 60(2):89-98. Epub 2006 Jul 24.
2.    Llovet JM (2005): Updated treatment approach to hepatocellular carcinoma. J Gastroenterol. 40(3):225-35.
3.    Zhu AX (2007): Development of sorafenib and other molecularly targeted agents in hepatocellular carcinoma. Cancer.

Monday, June 6, 2016

Bệnh ung thư Gan ở trẻ em.

"Cứ 500 trẻ em thì có một trẻ em mắc một loại bệnh ung thư nào đó."


HepatitisBlogs - Bệnh u gan ở trẻ em hiếm gặp. Các trẻ em trai thường bị ảnh hưởng nhiều hơn các trẻ em gái. Các khối u gan có thể là không ung thư (lành) hoặc ung thư (ác tính). Phần này đề cập đến các khối u gan ác tính.
 
CHỨC NĂNG CỦA GAN

Gan là cơ quan lớn nhất trong cơ thể, và là cơ quan chính sản sinh ra nhiệt. Nó được bao quanh bởi một vỏ xơ và được chia thành nhiều phần được gọi là các thuỳ. Gan nằm ngang ở phần trên bụng và gan phải lớn hơn gan trái. Gan được bao bọc và bảo vệ khỏi các tổn thương thực thể bởi các xương sườn ở dưới.

Gan là một cơ quan có nhiều chức năng cực kỳ quan trọng. Một trong những chức năng đó là sản xuất ra các protein lưu thông trong máu. Một số loại protein giúp cho máu đông lại và ngăn chặn sự chảy máu quá mức, trong khi đó các protein khác cần thiết để duy trì sự cân bằng dịch trong cơ thể. Gan còn phá huỷ các chất có hại, và tiêu huỷ những sản phẩm thừa không cần thiết của cơ thể, vì vậy chúng có thể được đào thải ra ngoài trong nước tiểu hoặc phân.


Gan còn chịu trách nhiệm trong việc phân giải thức ăn có chứa hydrat- cacbon (các loại đường) và các chất béo, vì chúng có thể được cơ thể sử dụng để tạo ra năng lượng. Gan chứa đựng những chất như glu-co và các loại vitamin và những chất này có thể được cơ thể dùng đến khi cần thiết. Gan còn sản xuất ra mật, một chất phân giải các chất béo trong thức ăn, vì vậy chúng có thể được hấp thu qua ruột.

Gan được nối với ruột non (tá tràng) bằng một đường ống, được gọi là ống mật. Đường ống này đưa mật do gan sản xuất ra đến ruột.

Gan có khả năng hết sức ngạc nhiên là tự hồi phục. Nó có thể hoạt động bình thường, thậm chí nếu chỉ có một phần nhỏ của gan còn làm việc được.

UNG THƯ GAN

Ung thư gan có thể là nguyên phát hoặc thứ phát. Những ung thư gan nguyên phát bắt đầu trong gan và những ung thư gan thứ phát đã lan tràn vào gan từ một bộ phận khác của cơ thể. Bài này chỉ nói về ung thư gan nguyên phát ở trẻ em.

Ung thư gan nguyên phát có hai loại chính:

+ U nguyên bào gan thường xuất hiện ở trẻ em dưới 5 tuổi. Bệnh này hiếm gặp.

+ Ung thư biểu mô tế bào gan. Loại này hiếm gặp và thường xuất hiện ở trẻ em lớn.

Nguyên nhân của những khối u gan

Nguyên nhân của hầu hết các khối u gan nguyên phát ở các nước Phương Tây chưa được biết rõ. Tuy nhiên, ở những vùng khác của thế giới, ung thư biểu mô tế bào gan thường có liên quan đến sự hiện diện của sự nhiễm khuẩn gan. Ví dụ, ở nhiều quốc gia nơi có nhiều bà mẹ thường bị mắc  bệnh viêm gan B và việc tiêm chủng không dễ dàng có được để tiêm cho con họ vào ngay sau đẻ. Những đứa trẻ bị nhiễm bệnh viêm gan B có nguy cơ cao phát triển bệnh ung thư nguyên bào gan vào giai đoạn tuổi thơ sau này hơn là những đứa trẻ không bị nhiễm bệnh.

Các dấu hiệu và triệu chứng

Dấu hiệu thông thường nhất là một cục u lồi lên hoặc sưng phồng ở bụng, có thể bị đau. Những triệu chứng có thể xảy ra khác bao gồm giảm cân, ăn kém ngon, cảm giác ốm yếu (buồn nôn) và bị nôn.

Bệnh u gan ở trẻ em được chẩn đoán như thế nào

Hàng loạt các xét nghiệm và thăm dò có thể cần làm để chẩn đoán một khối u gan. Chụp siêu âm và X quang sẽ được thực hiện có thể cho biết có khối u ở trong gan không. Các xét nghiệm khác bao gồm chụp cắt lớp vi tính hoặc chụp cộng hưởng từ hạt nhân sẽ được làm để xác định phạm vi của bệnh, cả bên trong và bên ngoài gan. Các xét nghiệm máu cũng sẽ được tiến hành.

Hầu hết các u nguyên bào gan và ung thư biểu mô tế bào gan sản sinh ra một loại protein được đưa vào dòng máu trong cơ thể. Loại protein này được biết là Alpha- fetoprotein (AFP). Để có thể đo được các mức AFP trong máu, là chất có thể chỉ điểm hữu ích cho biết liệu khối u gan có đáp ứng với điều trị không hay là nó có tái phát lại sau điều trị hay không. Chất AFP còn được biết đến như là một chỉ điểm ung thư.

Bất cứ xét nghiệm và nghiên cứu nào mà bệnh nhi cần làm sẽ được giải thích với bạn. 

Định nhóm bệnh

Để đánh giá sự lan tràn của ung thư, một hệ thống nhóm được gọi là hệ thống lan tràn trước điều trị của bệnh được sử dụng. Hệ thống này sử dụng kỹ thuật chụp cộng hưởng từ  MRI để đo khối lượng ung thư trong gan lúc chẩn đoán (bằng chụp MRI) và được dùng để giúp lập phác đồ điều trị tốt nhất cho từng bệnh nhi.

Hệ thống nhóm này chỉ liên quan đến những khối u gan và được sử dụng trên khắp thế giới, trừ một số trường hợp ở Bắc Mỹ, Đức và Nhật bản.

Quy trình định nhóm này là cần thiết vì những u gan này cần được lấy ra bằng phẫu thuật. Việc định nhóm này chia gan thành bốn vùng phẫu thuật (khu vực) và đưa ra chỉ dẫn đúng từ chẩn đoán loại phẫu thuật cần tiến hành để lấy khối u ra. Việc định nhóm này còn giúp các bác sĩ biết được liệu có cần kèm theo một phẫu thuật ghép gan ngay từ  đầu không.

Nhóm 1: Một phần gan bị ảnh hưởng và khối u có thể được lấy ra bằng phẫu thuật dễ dàng.

Nhóm 2: Hai phần bị ảnh hưởng và khối u có thể được lấy ra bằng phẫu thuật phạm vi rộng hơn.

Nhóm 3: Ba phần gan bị ảnh hưởng và khối u có thể được lấy ra với ca phẫu thuật lớn.

Nhóm 4: Cả bốn phần của gan bị ảnh hưởng và khối u không thể lấy ra mà không có sự thay thế gan cùng với việc ghép gan của một người cho.

Các bác sĩ còn xem xét phạm vi lan tràn của ung thư ngoài gan.

Trong các mạch máu. Đôi khi, khối u xâm nhập vào các mạch máu đi vào hoặc đi ra từ gan. Điều này có thể ảnh hưởng đến loại phẫu thuật cần thiết để lấy bỏ khối u.

Trong bụng. Đôi khi, khối u lan tràn ra ngoài gan và đi vào vùng ổ bụng. Điều này làm cho việc lấy bỏ khối u hoàn toàn không thể thực hiện được.

Trong phổi hoặc các cơ quan khác. Nếu khối u lan tràn ra ngoài gan qua dòng máu (được gọi là bệnh di căn), khối u này thường đi vào phổi. Cứ khoảng một trong số năm trẻ em bị ung thư gan, phổi của của chúng được tìm thấy bị tổn thương khi chúng được chẩn đoán. Các bác sĩ sử dụng kỹ thuật chụp X quang, chụp cắt lớp vi tính CT hoặc chụp cộng hưởng từ MRI để quyết định xem liệu phổi có bị ảnh hưởng không.
ĐIỀU TRỊ

Điều trị sẽ phụ thuộc vào một số yếu tố, bao gồm loại của ung thư gan (u nguyên bào gan hoặc ung thư biểu mô tế bào gan), nhóm của khối u, và liệu u đã di căn chưa. Việc điều trị luôn luôn bao gồm hoá trị và phẫu thuật. Đối với ung thư biểu mô tế bào gan, việc điều trị có thể còn bao gồm cả việc điều trị chống hình thành mạch hoặc là hoá trị nghẽn mạch (gây tắc mạch mắu nuôi dưỡng khối u).

Ban đầu, việc chẩn đoán sẽ được làm bằng việc lấy một mẫu tế bào nhỏ từ khối u (sinh thiết). Việc này được thực hiện sau khi đã gây mê toàn thân, hoặc là qua da hoặc là qua một mảnh cắt ở trong ổ bụng. Một chẩn đoán  phân nhóm và phạm vi lan tràn (nếu ung thư đã lan tràn) sẽ được xác định, Việc điều trị sẽ bắt đầu bằng hoá trị. Trước khi hoá trị được thực hiện, việc đánh giá nguy cơ được tiến hành. Công việc này giúp các bác sĩ quyết định loại và tổng lượng hoá trị cần thiết.

Nguy cơ trung bình là nhóm 1, 2 và 3.


Nguy cơ cao là nhóm 4 và bệnh đã di căn ra ngoài gan đến các bộ phận khác của cơ thể (bệnh di căn).

Hoá trị liệu là việc sử dụng các loại thuốc chống ung thư (gây độc tế bào) để tiêu diệt các tế bào ung thư. Cách điều trị này thường được sử dụng qua đường tiêm và truyền nhỏ giọt vào một tĩnh mạch. Bác sĩ của bệnh nhi sẽ thảo luận với gia đình bệnh nhi về loại và tổng lượng hoá trị cần thiết, dựa trên kết quả đánh giá nguy cơ của chúng. Đôi khi, điều trị hoá trị bổ sung được đề nghị sau phẫu thuật.

Hoá trị nghẽn mạch là việc truyền thuốc trực tiếp vào một tĩnh mạch đi thẳng vào gan. Rất hãn hữu, phương pháp này có thể được áp dụng cho bệnh ung thư tế bào gan.

Điều trị chống tạo mạch là dùng thuốc ngăn chặn khối u phát triển hệ thống mạch cung cấp máu. Phương pháp này đôi khi được dùng trong việc điều trị ung thư biểu mô tế bào gan. Loại thuốc chống tạo mạch tốt nhất được biết đến là thalidomide. Mặc dù loại thuốc này là nguy hiểm đối với những phụ nữ có mang, thuốc này có thể giúp kiểm soát được sự tăng trưởng của các tế bào ung thư

Phẫu thuật. 
Tất cả trẻ em có thể được phẫu thuật, phẫu thuật sẽ được tiến hành sau khi điều trị hóa chất. Nếu có khối ung thư trong phổi, và nếu khối u này không hết hoàn toàn sau điều trị hoá chất thì phổi sẽ được mổ trước tiên.  Nếu như khối u gan có thể được cắt bỏ bằng phẫu thuật thì ca mổ sẽ được tiến hành, thường là sau một hoặc hai tuần.

Ở nhiều nước, nếu như khối u đã xâm nhập cả bốn phần của gan (nhóm 4) thì một phẫu thuật ghép gan là cần thiết. Phẫu thuật ghép gan này được khuyên áp dụng đối với bệnh u nguyên bào gan, nhưng chỉ áp dụng trong những trường hợp rất đặc biệt đối với bệnh ung thư biểu mô tế bào gan. Trong một ca ghép gan, toàn bộ gan sẽ được lấy ra và thay vào đó là một gan của người khác. Việc này sẽ được thảo luận với gia đình bệnh nhi ngay từ khi bắt đầu, và họ sẽ dành cho bạn cơ hội để suy nghĩ về việc hiến một nửa gan của mình, hoặc là đối với bệnh nhi để nhận một gan từ một người hiến tặng. Đội ngũ bác sĩ ghép gan sẽ trả lời tất cả các câu hỏi của gia đình bệnh nhi. Việc ghép gan chỉ có thể làm được nếu toàn bộ khối u ở bên ngoài gan đã được loại bỏ.

Những ảnh hưởng phụ của điều trị

Việc điều trị thường gây ra những ảnh hưởng phụ, và bác sĩ của bệnh nhi sẽ thảo luận những vấn đề này với gia đình bệnh nhi trước khi việc điều trị bắt đầu. Những ảnh hưởng phụ có thể bao gồm: cảm giác ốm yếu (buồn nôn) và bị nôn, rụng tóc, tăng nguy cơ nhiễm khuẩn, dễ bị vết thâm tím và chảy máu, sự mệt mỏi và ỉa chảy.

Những tác dụng phụ muộn

Điều trị hoá chất đã áp dụng trong ung thư gan có thể gây ra những tác dụng phụ muộn. Những tác dụng phụ này bao gồm những vấn đề về thính giác, về thận và có thể cả những vấn đề về tim. Sẽ có tăng nhẹ nguy cơ cho bệnh nhi phát triển loại ung thư khác trong cuộc sống sau này. Hầu hết trẻ em sẽ phát sinh một số tác dụng phụ muộn và vì vậy sẽ cần phải được theo dõi. Bác sĩ của bệnh nhi sẽ giải thích nhiều hơn về bất cứ tác dụng phụ muộn nào có thể xảy ra.


Sự tái phát

Nếu như ung thư quay trở lại sau khi điều trị lần đầu, hiện tượng này được biết là một tái phát. Nó có thể tái phát trở lại ở gan hoặc ở các bộ phận khác của cơ thể. Nếu ung thư quay trở lại, thường thì các mức AFP trong máu của bệnh nhi sẽ bắt đầu tăng trở lại (trước khi không có bất kỳ dầu hiệu nào khác được nhìn thấy trên hình chụp cắt lớp vi tính), và đạt tới các mức trên 100. Sự tăng nhẹ mức AFP có thể xuất hiện trong vài tuần sau phẫu thuật, vì vậy gan có thể phục hồi nhiều nhất.

Những thử nghiệm lâm sàng

Nhiều trẻ em được điều trị như một phần của một thử nghiệm nghiên cứu lâm sàng. Những thử nghiệm này nhằm mục đích để thay đổi sự hiểu biết của chúng ta về cách tốt nhất để điều trị một bệnh (thường là bằng việc so sánh giữa việc điều trị tiêu chuẩn với một phương pháp điều trị mới hoặc một điều trị chuẩn đã thay đổi). Các bác sĩ chuyên gia tiến hành những thử nghiệm này đối với bệnh ung thư trẻ em. Đội ngũ thầy thuốc của bệnh nhi sẽ nói với gia đình bệnh nhi về việc tham gia từng phần trong một thử nghiệm điều trị (nếu thích hợp) và sẽ trả lời mọi câu hỏi mà họ đưa ra. Bản thông tin thường được cung cấp để giúp đỡ việc giải thích mọi thắc mắc. Việc tham gia vào một thử nghiệm nghiên cứu là hoàn toàn tự nguyện, và gia đình bệnh nhi sẽ được dành nhiều thời gian để quyết định nếu thử nghiệm này thích hợp với con họ.

Theo dõi

Khi việc điều trị kết thúc, bệnh nhi sẽ được làm các xét nghiệm máu thường xuyên để kiểm tra mức AFP trong máu (nếu thích hợp), cũng như chụp cắt lớp vi tính và chụp X quang ngực. Hơn ba phần tư trẻ em có bệnh u nguyên bào gan được chữa khỏi, và đối với những trẻ em có những khối u nhỏ tiếp giáp với gan, thậm chí có triển vọng tốt hơn. Kết quả đối với bệnh ung thư biểu mô tế bào gan không được hoàn toàn tốt. Đội ngũ bác sĩ ở bệnh viện có thể cho gia đình bệnh nhi thông tin về kết quả phù hợp đối với con họ.

Nếu gia đình bệnh nhi có những lo lắng riêng về tình trạng và việc điều trị của con họ thì việc tốt nhất là hãy thảo luận với bác sĩ của con họ, các bác sĩ biết rõ chi tiết mọi tình hình của bệnh nhi của mình.

Những cảm xúc được chia sẻ

Là bậc cha mẹ, sự thật con bạn bị ung thư là một tình hình tồi tệ nhất mà bạn có thể phải đối mặt. Bạn có thể có nhiều những cảm xúc khác nhau, ví dụ như sự sợ hãi, cảm giác tội lỗi, buồn bã, cáu giận và không tự tin. Tất cả những cảm xúc đó là sự phản ứng bình thường và là một phần của quá trình mà nhiều bậc cha mẹ phải trải qua vào một thời kỳ khó khăn.

Bệnh nhi có thể có hàng loạt những cảm xúc khác nhau qua sự từng trải về bệnh ung thư của chúng.

Saturday, June 4, 2016

Những dấu hiệu nhận biết về căn bệnh Ung Thư

TRIỆU CHỨNG CHÍNH CỦA BỆNH UNG THƯ:

 
Sốt - Ớn lạnh - Ra mồ hôi ban đêm - Sụt cân - Chán ăn - Mệt mỏi - Cảm giác khó chịu trong người . 
 
7 triệu chứng trên đây thường gặp ở bệnh nhân ung thư.

NGOÀI 7 TRIỆU CHỨNG TRÊN CÒN CÓ CÁC TRIỆU CHỨNG KÈM THEO

  1. Ho kéo dài, đau ngực, ho ra máu (nghi ngờ ung thư phổi),
  2. Thay đổi thói quen đại tiện, tiêu bón, tiêu chảy xen kẽ, tiêu có chất nhày nhớt hoặc có máu (nghi ngờ ung thư đại trực tràng),
  3. Ăn mau no, đầy hơi, đau thượng vị (nghi ngờ ung thư dạ dày),
  4. Sốt kéo dài, đau hạ sườn phải, vàng mắt, vàng da nhẹ (nghi ngờ ung thư gan),
  5. Chảy máu âm đạo bất thường (nghi ngờ ung thư cổ tử cung),
  6. Vết bầm xuất huyết dưới da (nghi ngờ bệnh bạch cầu),
  7. Nuốt nghẹn (nghi ngờ ung thư thực quản),
  8. Nhức đầu, mờ mắt, co giật (nghi ngờ ung thư não),
  9. U cục ở vú, núm vú tụt vào hoặc tiết dịch bất thường (nghi ngờ ung thư vú),
  10. Tiểu có máu, tiểu khó, tinh dịch có máu (nghi ngờ ung thư tiền liệt tuyến, ung thư thận, ung thư bàng quang, ung thư tinh hoàn)
  11. Đau lâm râm vùng hạ vị ở phụ nữ (nghi ngờ ung thư tử cung hoặc buồng trứng) v.v.
  12. Nốt ruồi hoặc mụt cóc thay đổi hình dạng hoặc lớn nhanh bất thường, vết lở loét ở ngoài da không lành (nghi ngờ ung thư da, ung thư hắc tố melanoma)













Kiến thức của bạn về bệnh ung thư Gan như thế nào?

Kiến thức của bạn về bệnh ung thư Gan như thế nào?

Căn bệnh chủ yếu của gan là ung thư gan. Bệnh thường xuất hiện từ gan hoặc xuất phát từ bệnh ung thư ở nhiều bộ phận trên cơ thể rồi lan tới gan. 

CÁC BỆNH UNG THƯ GAN:
Chức năng chính của gan là lọc máu, giúp cho máu lưu thông khắp cơ thể, giúp chuyển hóa chất dinh dưỡng và hấp thụ thuốc từ cơ quan tiêu hóa bằng các hợp chất sinh học sẵn có. Gan có nhiều chức năng quan trọng, như loại bỏ độc tố và bài tiết các chất hóa học độc hại trong máu. Vì vậy, tất cả lượng máu trong cơ thể đều phải lọc qua gan. Tuy nhiên, gan không tới được các tế bào ung thư tồn tại trong máu.
Hầu hết ung thư gan là do tự phát hoặc do di căn, tức là bắt đầu từ một khối u ác tính ở cơ quan nào đó trong cơ thể thường là ở ruột, phổi, hay vú nhưng chủ yếu bắt nguồn chính ở trong gan. 
Căn bệnh ung thư này chiếm khoảng 2% ở Mỹ nhưng ở các nước kém phát triển và đang phát triển, con số này chiếm 50% so với những căn bệnh ung thư khác. Nguyên nhân cơ bản là do hậu quả của bệnh viêm gan, bệnh do virus truyền nhiễm gây ra.
Gan được hình thành bởi một số loại tế bào khác nhau, vì thế trong gan có thể xuất hiện những khối u:
  • U lành (không có tế bào ung thư).
  • U ác (có tế bào gây ung thư).
Nó có thể là hệ quả của 1 loại ung thư khác đang trong quá trình di căn (lan rộng khắp cơ thể). Những khối u lành do nhiều nguyên nhân khác nhau gây ra và được điều trị theo nhiều cách khác nhau. Sự phục hồi phụ thuộc vào khối u của bạn thuộc loại nào.



  • U mạch máu
  • U tuyến lá gan
  • Focal nodular hyperplasia

UNG THƯ GAN BAO GỒM:
  • Ung thư biểu bì gan
  • U biểu bì đường mật (Đây là những căn bệnh ung thư xuất phát từ ống mật)

NGUYÊN NHÂN DẪN TỚI UNG THƯ GAN:
Chủ yếu ung thư gan (ung thư biểu bì gan) thường hình thành trong chính những lá gan do:
  • Khuyết tật bẩm sinh.
  • Do uống rượu, hay bị ảnh hưởng lâu dài bởi nhiều loại bệnh chẳng hạn như viêm gan B hay viêm gan C, hemochromatosis (trong gan có quá nhiều sắt).
  • Bệnh xơ gan (uống rượu làm cho gan bị tổn thương, viêm gan B hay C, hay hemochromatosis đều chắc chắn là nguyên nhân làm hỏng và gây bệnh cho gan).
  • Những người mắc bệnh do di truyền gọi là hemochromatosis, hay bệnh thừa sắt, thì thậm chí nguy cơ ung thư còn hơn rất nhiều.
  • Do phơi nhiễm thuốc diệt cỏ và các chất hóa học như nhựa viny clorua và thạch tín.
  • Hút thuốc lại hay uống rượu thì càng làm tăng nguy cơ.
  • Chất độc tạo thành trong bào tử nấm được sinh ra từ một loại mốc của cây cũng gây ung thư. Những chất độc trong bào tử nấm sẽ làm hỏng lúa mì, lạc, gạo, ngô hay đậu tương.

Những nhân tố khác gây ung thư gan:
  • Giới tính: Đàn ông thường mắc bệnh ung thư gan nhiều hơn phụ nữ.
  • Những vận động viên nữ phải sử dụng hormon để phát triển cơ trong thời gian dài có thể tăng nguy cơ ung thư gan.
  • Các loại thuốc tránh thai. Chúng có thể tăng nguy cơ ung thư gan. Hầu hết những loại thuốc tránh thai có liên quan tới bệnh ung thư này đều không được sử dụng trong thời gian dài.

    Khổng Thu Hà (Theo WebMD)