Showing posts with label Sức Khỏe. Show all posts
Showing posts with label Sức Khỏe. Show all posts

Sunday, September 4, 2016

Cấy que tránh thai và những hậu quả không thể ngờ

Cấy que tránh thai được coi là biện pháp tránh thai hiệu quả nhất hiện tại. Tuy nhiên vẫn nhiều chị em vẫn dính bầu như thường và còn nhiều hệ quả khác…

Lưu ý bài viết cấy que tránh thai:

Đây là kinh nghiệm và chia sẻ cá nhân về cấy que tránh thai của chị Thục Thảo Phan, mọi kiến thức trong bài là được bác sĩ tư vấn và tìm hiểu kĩ. Không phải ai cũng giống nhau, bài hơi dài nhưng chắc chắn rất hữu ích cho nàng đang tìm và lựa chọn cấy que tránh thai.

Các mẹ thân mến, mình cấy que tránh thai năm nay là đúng 2 năm 7 tháng. Và còn 5 tháng nữa là mình hết hạn của que. Mình chọn cách này chỉ đơn giản đây là phương pháp không phải nhớ mỗi ngày uống gì hay không phải nơm nớp lo sợ bị dính chưởng mà không hay. Và nguyên nhân hấp dẫn khiến mình quyết định chọn phương pháp này là nghe đồn nó sẽ tịt vụ hàng tháng.

Bản chất của phương pháp này là dùng một hay các que nhỏ như que diêm chứa hoóc-môn progesterone cấy vào dưới da
1. Niềm vui những ngày đầu cấy que tránh thai

- Các bạn cấy que tránh thai chắc chắn ngoài việc tránh thai ra thì nguyên nhân hấp dẫn nữa đó là vụ TỊT: đúng rồi, năm đầu tiên nó tịt thật, tịt đến nỗi mà mình vênh cả mặt tự tin vô tư lên nhiều kế hoạch đi chơi mà không lo "ngày ấy", nhưng cũng từ đó tính tình thay đổi hẵn (không phải mình vin cớ đổ thừa tại cấy que tránh thai để bao che tính kì quái vốn có nhưng đã kì quái giờ còn kì hơn) mình không kiềm chế được cảm xúc, rất cáu giận, quát tháo, tâm trạng lúc nào cũng thay đổi như kiểu trầm cảm nhẹ. Và cơ thể bắt đầu tăng cân rõ rệt. Đôi khi đầu nhức dữ dội (lúc đó lại nghĩ bị viêm xoang). Ngay tại thời điểm đó, thì tất cả các triệu chứng mình đều bỏ qua vì đang sung sướng về cái vụ tịt (trước đây nguyệt san mình rất đều, đúng ngày của tháng là đến và đúng 5 ngày là đi).

2. Chuỗi ngày vỡ mộng

- Nhưng niềm vui kéo dài không lâu (cấy que tránh thai tầm được 15 tháng) thì 1 trận đau bụng (đau bụng nguyệt san á) kéo dài 2,3 ngày (lúc đó lại nghĩ đau dạ dày mới đau) đến ngày thứ 4 thì đi mua băng không kịp (vì lâu rồi không có mua sử dụng). Nó đến ào ạt như thể bị vỡ đê, và trận đó kéo dài đúng 16 ngày thì chấm dứt. Và tịt tiếp. Nhưng cơ thể bắt đầu thấy thay đổi rõ rệt hơn qua việc cân nặng tiếp tục tăng, nhức đầu thường xuyên và hình như mình chính thức bị trầm cảm (đừng hỏi sao biết hay vậy vì đơn giản mình đã từng bị trầm cảm sau sinh phải đi khám chữa trị, nên những triệu chứng đến với bản thân mình rõ hơn ai hết).

- Sau trận oanh tạc 16 ngày đó thì nó tịt đúng 3 tháng sau, 1 ngày âm u nó lại kéo đến như bão lũ và lần này nó dài tận 22 ngày. Rồi dứt. Nhưng dứt được tầm 18, 19 ngày thi nó lại về như bão lũ thêm 19 ngày nữa (đến đây chắc chắn có người thắc mắc sao nhớ dai vậy, vâng em không phải thánh, em bị lần thứ 1 là do ấn tượng khó phai nhưng lần thứ 2 trở đi là em đi khám sản phụ khoa rồi nên em có note theo dõi). Đến đây thì cơ thể không tăng cân nữa mà nó bắt đầu tụt cân. Một chuyện nhỏ thôi cũng làm bản thân cáu gắt không kiềm chế được cảm xúc. Đau bụng thường xuyên hơn và xuất hiện thêm triệu chứng mới đó là nôn ói, các mẹ tưởng tượng nha, bầu nghén sao em y vậy, có lúc em sợ quá phải mua que thử thai về thử 4,5 lần vì sợ dính chưởng (à nói đến đây sẵn nói luôn, đừng nghĩ biện pháp này an toàn, đúng là nó tránh thai xác xuất cao nhất nhưng nó vẫn không phải tuyệt đối và em đã chứng kiến thấy bà chị nhỏ bạn em cấy que tránh thai được 6 tháng xong bụng càng ngày càng to mà cứ nghĩ mập, vì tâm lý là đã cấy que vào người rồi thì bầu thế nào được. Nhưng hôm đó đi trượt chân ra máu đến bệnh viện mới tá hoả là bầu hơn 3 tháng rồi. May là em bé không sao nhưng ngậm ngùi thêm thành viên thứ 3 vì vỡ kế hoạch, con là trời cho mà).
3. Tác dụng phụ đáng sợ

- Từ khi 19 ngày đó kết thúc thì em tịt tiếp đến gần 6 tháng sau mới xuất hiện hiện tượng mà em khiếp đảm khiến em quyết định thứ 2 này đi lấy ra, chứ sợ lắm. Ôi trời ơi nó rong kinh cứ bị hai mươi mấy ngày hết được tầm 6, 7 ngày là bị tiếp hai mươi mấy ngày. Nghĩ mà khổ, cấy que tránh thai để tiết kiệm tiền mua băng ai dè giờ vừa tốn tiền đi cấy vào người, mà lại tốn thêm tiền mua băng (tốn gấp 10 lúc chưa làm mới đau). Cơ thể thì ôi thôi nó như chết trôi, tái nhợt, cân nặng thì cứ chào xương và da thịt đi nhé. Khủng khiếp nhất là cấy que tránh thai sẽ mã hoá 1 số gen vì cơ thể con người là cơ thể tự thay đổi thích nghi nên nó sẽ mặc định trứng rụng không cho thụ tinh, kiểu tinh trùng vào là cắt cổ giết không tha (cái này nói cho dễ hiểu thôi chứ các chị em chịu khó tham vấn bác sĩ hoặc tìm tài liệu y khoa đọc họ giải thích theo chuyên môn thuyết phục hơn) hậu quả có thể hoặc ít trường hợp là khi tháo que ra để sinh đứa nữa thì sẽ gặp ít khó khăn trọng vấn đề thụ thai (nếu cấy với thời gian lâu nhé).

- Đặc biệt que nó làm THAY ĐỔI NỘI TIẾT TỐ cơ thể sẽ khiến các triệu chứng như tàn nhang, nám nội tiết dưới da và Bướu tuyến giáp phat triển (bướu tuyến giáp do thiếu iot hoặc nội tiết thay đổi nhé), mà bướu lành và ác đề phát triển như nhau. Những tháng đổ lại đây mình rất bị ảnh hưởng đến cuộc sống vợ chồng, và sinh hoạt cá nhân vì nếu trừ vài ngày ra thì hình như 1 tháng hết 3 tuần rong kinh, nói thẳng ra là rong kinh kéo dài nhưng vì lì vì lười vì đủ thứ nguyên nhân tào lao mà mình cứ chần chừ không đi lấy ra trong đó có 1 nguyên nhân là mình luôn nuôi 1 hi vọng là nó tịt lại để thoải mái đi chơi hehe. À vấn đề ham muốn thì giảm đến gần như không có nhé. Từ trước tết đến giờ là gần 2 tháng mình chưa giã từ bạn băng , nhưng ra rất ít cứ rỉ rả ngày này qua ngày nọ, hôm bữa hết rồi mừng quá mua bộ bikini đi đầm sen nước ai ngờ mặc xong chưa kịp bước xuống bơi tung tăng thì.... ngậm ngùi đi về.

- Mình không khuyên gì vì công bằng mà nói cấy que tránh thai là biện pháp dễ dùng và an toàn phòng tránh tốt nhất trong các loại tránh thai. Nhưng nếu chồng chịu được thì tránh bằng cách mang bao hay cho ra ngoài đi các mẹ, vì nó có an toàn đến đâu thì nó cũng có các tác dụng phụ mà mình đã vinh hạnh được nếm đủ đo là: tịt, tăng cân, đau đầu, buồn nôn, giảm ham muốn , có người bị mụn nữa, và trầm cảm( cái này đáng sợ lắm tin mình đi vì mình đã từng bị nên mình rất sợ) đặc biệt nó làm rối loạn nội tiết dẫn đến 1 số bệnh như nám nội tiết (không hại gì chỉ xấu mỹ quan thôi gây mất tự tin), bướu tuyến giáp (bướu lành thì chỉ to lên rồi mổ nhưng bướu ác thì có phải khổ không, cái này tâm lý kinh khủng ngồi chờ kết quả chọc sinh khiết để biết lành hay ác là cả thời gian nặng nề trôi qua như kiểu đang chuẩn bị mua tấm vé về với thần chết vậy)

Sau khi được đưa vào da dưới cánh tay, các que cấy sẽ phóng thích dần dần lượng hormone vào cơ thể tạo ra tác dụng ngừa thai kéo dài có thể lên đến 5 năm.
4. Lời kết về phương pháp tránh thai đang hot này

Chắc chắn mình không thể viết rõ được hết, nhưng cũng ít nhiều cho các mẹ thông tin tốt hữu ích để quyết định cấy que tránh thai hay không cấy que tránh thai. Mình cũng xin nói là mỗi người mỗi cơ địa khác nhau nên mình chỉ nêu hiện tượng cho cơ đia của mình cho các mẹ tham khảo mà thôi. Còn bây giờ ai đi cấy que thì cấy chứ mình quyết định tháo. Sợ lắm rồi thà tốn tiền hàng tháng mua băng 5 ngày mà biết chính xác có khi nào hết khi nào chứ như vầy chắc chết. Mà nói thật biết bị vầy lúc trước không cấy que tránh thai đâu, giờ lấy ra cũng chưa chắc nó trở về được như xưa nữa.

Suy nghĩ kĩ trước khi áp dụng cách này nhé! Làm thì không đau đớn gì, như kiến cắn tí thôi; 2,3 ngày sau hơi ngứa chỗ cấy đỏ đỏ tí à. Nên quyết định làm theo phương pháp này thì đừng sợ vụ đau.

Chia sẻ: Thục Thảo Phan

Saturday, August 27, 2016

Giải thích kết quả xét nghiệm và các thuật ngữ xét nghiệm


1. GLUCOSE: Đường trong máu. Giới hạn bình thường từ 4,1-6,1 mnol/l. Nếu vượt quá giới hạn cho phép thì tăng hoặc giảm đường máu. Tăng trên giới hạn là người có nguy cơ cao về mắc bệnh tiểu đường.

2. SGOT & SGPT: Nhóm men gan. Giới hạn bình thường từ 9,0-48,0 với SGOT và 5,0-49,0 với SGPT. Nếu vượt quá giới hạn này chức năng thải độc của tế bào gan suy giảm. Nên hạn chế ăn các chất thức ăn, nước uống làm cho gan khó hấp thu và ảnh hưởng tới chức năng gan như: Các chất mỡ béo động vật và rượu bia và các nước uống có gas.

3. Nhóm MỠ MÁU: Bao gồm CHOLESTEROL, TRYGLYCERID, HDL-CHOLES, LDL-CHLES. Giới hạn bình thường của các yếu tố nhóm này như sau: Giới hạn bình thường từ 3,4-5,4 mmol/l với CHOLESTEROL, Giới hạn bình thường từ 0,4-2,3 mmol/l với TRYGLYCERID, Giới hạn bình thường từ 0,9-2,1 mmol/l với HDL-Choles, Giới hạn bình thường từ 0,0-2,9 mmol/l với LDL-Choles. Nếu 1 trong các yếu tố trên đây vượt giới hạn cho phép thì có nguy cơ cao trong các bệnh về tim mạch và huyết áp.Riêng chất HDL-Choles là mỡ tốt, nếu cao nó hạn chế gây xơ tắc mach máu. Nếu CHOLESTEROL quá cao kèm theo có cao huyết áp và LDL-Choles cao thì nguy cơ tai biến, đột quỵ do huyết áp rất cao. Nên hạn chế ăn các thực phẩm chứa nhiều chất mỡ béo và cholesterol như: phủ tạng động vật, trứng gia cầm, tôm, cua, thịt bò, da gà...Tăng cường vận động thể thao. Uống thêm rượu tỏi và theo dõi huyết áp thường xuyên.

4. GGT: Gama globutamin, là một yếu tố miễn dịch cho tế bào gan. Bình thường nếu chức năng gan tốt, GGT sẽ có rất thấp ở trong máu (Từ 0-53 U/L). Khi tế bào gan phải làm việc quá mức, khả năng thải độc của gan bị kém đi thì GGT sẽ tăng lên -> Giảm sức đề kháng, miễn dịch của tế bào gan kém đi. Dễ dẫn tới suy tế bào gan. Nếu với người có nhiễm SVB trong máu mà GGT, SGOT & SGPT cùng tăng thì cần thiết phải dùng thuốc bổ trợ tế bào gan và tuyệt đối không uống rượu bia nếu không thì nguy cơ dẫn đến VGSVB là rất lớn.

KẾT QUẢ MIỄN DỊCH

1. Anti-HBs: Kháng thể chống vi rút viêm gan siêu vi B trong máu (ÂM TÍNH < = 12 mUI/ml)

2. HbsAg: Vi rút viêm gan siêu vi B trong máu (ÂM TÍNH <>

KẾT QUẢ NƯỚC TIỂU

1. SG: Tỷ trọng của nước tiểu. Trung bình 1,005-1,020

2. PH: Độ PH trong nước tiểu. Bình thường từ 5-7.

3. Các yếu tố khác : B CẦU: tế bào bạch cầu. NIT: Nitrittes. PRO: Protein. GLU: Glucoe. KET: keton. UBG: Urobilinogen ( Muối mật). BILI: Bilinurin (Sắc tố mật). H CẦU: Hồng cầu.

4. Cặn lắng: Quay ly tâm nước tiểu lấy cặn lắng soi: Bạch cầu, Hồng cầu, Tinh thể.

Bình thường trong nước tiểu đều không có các yếu tố trên. Nhưng xuất hiện:

· PRO: Khi protein có trong nước tiểu và có thể có kèm theo Hồng cầu trong nước tiểu cần phải theo dõi chức năng thận do khả năng lọc của cầu thận không tốt. Nếu có điều kiện làm xét nghiệm nước tiểu 24h/ 03 tháng 01 lần tại các cơ sở xét nghiệm để phát hiện bệnh sớm.

· GLU: Khi có glucose trong nước tiểu -> Tiểu đường. Cần khám và điều trị sớm bệnh này theo tuyến y tế cơ sở.

· UBG và BILI: Là Urobilinogen ( Muối mật). BILI: Bilinurin (Sắc tố mật) có trong nước tiểu là do gan không lọc được hết các yếu tố này do vậy phải kết hợp so sánh với chức năng gan tại xét nghiệm máu nếu có tăng men gan -> theo dõi viêm gan hoặc tắc mật.

· Cặn lắng: Bình thường chỉ có một vài tế bào nhưng nếu có 10->20 tế bào bạch cầu hoặc hồng cầu cần phải kiểm tra lại chức năng lọc của thận tại y tế tuyến trên. Nếu có cặn lắng phốt phát hoặc cặn lắng can xi cần uống nhiều nước đề phòng cặn thận.

BẢNG GIẢI THÍCH KẾT QUẢ XÉT NGHIỆM HUYẾT HỌC

Test Result - Kết quả Flag - Báo hiệu Ghi Chú
WBC
Số lượng bạch cầu
2.7 K/uL - 2.700/ul L - Low
Thấp
Thấp
Ngoài giới hạn
LYM
Số lượng Lympho (bạch cầu đơn nhân)
0.7 25.6%L
700 Tỷ lệ lympho 25.6%
*MID
Số lượng các bạch cầu mono, eosinophils…
0.3 10.4 %M
300 Tỷ lệ mid 10.4%
GRAN
Số lượng bạch cầu hạt (bạch cầu đa nhân)
1.7 64.0 %G
1700 Tỷ lệ 64.0%
L - Low
Thấp
Thấp
Ngoài giới hạn
RBC
Số lượng hồng cầu
4.80 M/uL
4.800.000/ul
HGB
Huyết sắc tố
14.3 g/dL
14.3 g/dL
HCT
Thể tích khối hồng cầu
43.9 %
43.9 %
MCV
Thể tích trung bình hồng cầu
91.5 fL
91.5 fL
MCH
Huyết sắc tố trung bình hồng cầu
29.8 pg
29.8 pg
MCHC
Nồng độ huyết sắc tố trung bình hồng cầu
32.6 g/dL
32.6 g/dL
RDW
Tỷ lệ phân bố hồng cầu
13.7 %
13.7 %
PLT
Tiểu cầu
151. K/uL
151.000/ul


GIẢI THÍCH THUẬT NGỮ TRONG BẢNG KẾT QUẢ

*MID bao gồm các tế bào hiếm, ít xuất hiện như bạch cầu monocytes, eosinophils, basophils, bạch cầu non và các bạch cầu chưa trưởng thành khác.

Nhận định kết quả, chú ý:

- HGB (huyết sắc tố) thấp dưới 13 với nam và dưới 12 với nữ là thiếu máu.

- MCV (thể tích trung bình hồng cầu) dưới 80 là hồng cầu nhỏ.

- MCH (huyết sắc tố trung bình hồng cầu) dưới 26 là nhược sắc.

Nếu có báo hiệu:

- Lympho RM là có thay đổi nhẹ về số lượng và kích thước của bạch cầu lympho.

- Lympho R1 là thay đổi về số lượng.

- Lympho R2 là thay đổi về số lượng kèm theo thay đổi về kích thước của bạch cầu lympho.

- MID RM là có thay đổi nhẹ về số lượng và kích thước của bạch cầu monocytes, eosinophils…

- MID R2 là thay đổi về số lượng và kích thước, kèm theo tăng monocytes.

- MID R3 là thay đổi về số lượng và kích thước, kèm theo tăng eosinophils.

- Nếu số lượng bạch cầu và tế bào MID tăng cao kèm theo các dấu hiệu R2 R3, có thể có sự hiện diện của các bạch cầu non, chưa trưởng thành.

- GRAN RM là có sự thay đổi nhẹ về số lượng và kích thước bạch cầu hạt trung tính.

- GRAN R3 là có sự thay đổi về số lượng.

- GRAN R4 là có sự tăng giảm kèm theo số lượng phân chia nhân của tế bào hạt trung tính có thay đổi.

Xét nghiệm máu đọc được toàn bộ hệ gene của thai nhi?


Liệu có thể dựa vào các xét nghiệm máu để đọc ra toàn bộ hệ gene của thai nhi? Và liệu một xét nghiệm đơn giản có thể giúp các bậc cha mẹ biết được sự hình thành gene của thai nhi?

Hiện các bà mẹ mang thai thường xuyên phải dựa vào các hình ảnh siêu âm và những cuộc xét nghiệm máu, với hy vọng có thể phát hiện sớm các nguy cơ sức khỏe mà những đứa con chưa ra đời của mình có thể gặp phải.

Các nghiên cứu gần đây cho biết có thể giải mã toàn bộ hệ gene của thai nhi từ mẫu máu lấy từ cơ thể người mẹ. Trong tương lai, các bác sĩ có thể chẩn đoán về các bệnh liên quan tới gene hay các đặc tính của thai nhi bằng việc phân tích máu của người mẹ.

Các xét nghiệm này có thể mở đường thực hiện những nghiên cứu điều trị một số bệnh trước khi thai nhi được sinh ra đời và giúp các bậc cha mẹ, bác sĩ có sự chuẩn bị chăm sóc tốt hơn cho thai nhi sau khi các bé được sinh ra.

Cách đây 15 năm, nhà nghiên cứu bệnh hóa học Dennis Lo thuộc Trường Đại học Trung Quốc ở Hồng Kông lần đầu tiên phát hiện ra các mẫu DNA từ thai nhi được tìm thấy trong máu người mẹ. Đây là một phát hiện mang tính quan trọng, bởi không đòi hỏi tính can thiệp sâu vào cơ thể của người mẹ và thai nhi, do đó giảm thiểu được nguy cơ dọa sẩy thai. Vì vậy, phương pháp này nhanh chóng được chấp nhận.
 

Một vài phòng thí nghiệm đã tập trung phân tích DNA của thai nhi và triển khai các phương pháp xét nghiêm không can thiệp trước sinh. Trong những năm gần đây, các công nghệ về gene phát triển mạnh mẽ và rẻ tiền hơn và các phương pháp phân tích dữ liệu gene ngày càng tiến bộ.

Một trong những xét nghiệm đầu tiên được phát triển là dành cho việc xem xét yếu tố RhD trong máu - một loại protein trong máu có thể dẫn tới nguy cơ thai nhi bị tật hoặc chết lưu nếu người mẹ phản ứng âm tính với RhD, trong khi thai nhi phản ứng dương tính với RhD. Gần đây, phương pháp xét nghiệm máu còn được ứng dụng trong việc tìm ra nguy cơ mắc hội chứng Down ở thai nhi trong giai đoạn đầu thai nghén.
Giáo sư về thai sản Jacob Canick của Trường Đại học Brown, Mỹ giải thích rằng, các xét nghiệm máu có thể phát hiện ra 90% các ca thai nhi nhiễm hội chứng Down, tuy nhiên vẫn có tỉ lệ sai sót từ 2 - 5%. Tỉ lệ này nghe là thấp, song hội chứng Down chỉ ảnh hưởng ở mức độ 1/500 ca mang thai và số lượng phụ nữ mang thai nhi phản ứng dương tính giả với hội chứng Down thường cao hơn số phụ nữ mang những thai nhi bị nhiễm hội chứng Down thật.

"Điều này có nghĩa 19/20 phụ nữ phải trải qua các xét nghiệm can thiệp sâu để tìm hiểu ra rằng con của họ không bị bất thường gene"- ông Canick cho hay. Trên thực tế, rất nhiều phụ nữ có nguy cơ con bị nhiễm hội chứng Down từ chối các xét nghiệm can thiệp sâu, vì họ sợ ảnh hưởng tới thai nhi. Vì vậy, các xét nghiệm không can thiệp trở nên được ưa chuộng hơn.

Theo các nhà khoa học, thai nhi nhiễm hội chứng Down và các vấn đề sức khỏe khác là do hệ gene bị thừa hay thiếu các nhiễm sắc thể. Các phương pháp xét nghiệm máu có thể tìm ra được điều nay, tuy nhiên không phải chính xác hoàn toàn. Song các thai phụ vẫn lựa chọn vì chúng có thể giúp họ tránh những xét nghiệm can thiệp sâu.
 

Tuy nhiên, vừa qua, một nhóm các nhà khoa học của Trường Đại học Washington tại Seattle, Mỹ đã giải mã gene của thai nhi bằng cách phân tích mẫu máu lấy từ người mẹ và mẫu nước bọt từ người bố. Trong khi đó, các nhà nghiên cứu trường Stanford, Mỹ cũng vừa giải mã được gene thai nhi chỉ bằng cách lấy mẫu máu từ người mẹ.

Tiến bộ này cho thấy các bậc cha mẹ sẽ sớm được hưởng các xét nghiệm không can thiệp, nhưng vẫn phát hiện ra các bất thường gene và những đặc tính của thai nhi. Việc thêm kiến thức như vậy cũng có thể giúp các bậc cha mẹ và bác sĩ ý thức được rủi ro ở thai nhi, hoặc có sự chuẩn bị chăm sóc tốt hơn đối với thai nhi sau khi trẻ được sinh ra.


Theo Technology Review

Friday, August 26, 2016

Làm gì khi men gan (men GGT) tăng cao


Tôi bị nhiễm virút viêm gan B. tôi đi xét nghiệm thì được biết men GGT quá cao (192). Cơ thể tôi vẫn bình thường, thèm ăn, không buồn nộn xin bác sĩ cho biết tôi nên điều trị bằng cách nao?

Trả lời:
GGT là 1 loại men gan cùng với 2 loại nữa là SGOT và SGPT. Ba loại này tăng khi có tổn thương gan do viêm gan, đặc biệt GGT tăng cao khi tổn thương gan do bia rượu.

GGT tăng cao có thể cho biết 1 tình trạng của bệnh gan (viêm gan, chai gan, u bướu gan..) nhưng không chuyên biệt vì GGT cũng tăng cao do uống rượu, suy tim, do dùng 1 số thuốc, thí dụ: thuốc trị bệnh động kinh, thuốc chống đau chống viêm không có steroid ( Ibuprofen, Naproxen, Voltaren v.v ), thuốc kháng sinh, chống nấm .....

Nếu muốn biết có phải bệnh gan không thì thông thường xét nghiệm GGT thường được làm chung vớí các xét nghiệm khác về chức năng gan như AST, ALT để có sự chuyên biệt về gan.

Bạn nên theo dõi men gan, GGT thường xuyên xem số lượng có thay đổi không và cũng nên làm siêu âm gan để biết chắc tình trạng của gan. Nếu bạn thường xuyên uống rượu và hút thuốc thì nên ngưng uống rượu, không hút thuốc lá, nên giảm các thức ăn nhiều dầu mỡ, chiên xào, nên dùng chế độ ăn bổ dưỡng nhiều chất đạm. Nếu cần dùng thuốc gì thì nên hỏi bác sĩ xem có hại cho gan không.

Bạn đã đi khám, đã làm xét nghiệm để chẩn đoán bệnh, theo chúng tôi bạn tham khảo ý kiến bác sĩ thăm khám cho bạn để được tư vấn điều trị hiệu quả và phù hợp với kết quả chẩn đoán bệnh của bạn.

Chúc bạn mau khoẻ.

Wednesday, August 24, 2016

Có nên đi xét nghiệm men gan định kỳ

 
Kết quả của một thống kê thăm dò trên 50 bệnh nhân đã xét nghiệm máu qua nhiều cơ sở y tế ở TPHCM cho thấy 42 bệnh nhân trong số đó hoàn toàn không hiểu về ý nghĩa của xét nghiệm men gan, 8 người còn lại tuy có khái niệm về men gan tăng cao nhưng không ai được thông tin chính xác về hậu quả của bệnh.

Cho nên không lạ gì khi nhiều người lơ là với căn bệnh này. Chưa hiểu hết ngọn nguồn làm sao biết sợ?

Nói chung, men gan là các hoạt chất tham gia trong phản ứng thoái biến của tế bào gan, trong điều kiện bình thường “đóng đô” trên màng hay trong cấu trúc của tế bào.

Nếu tế bào nguyên vẹn thì khó tìm thấy men gan trong máu. Ngược lại, nếu tế bào gan vì lý do nào đó bị phân hủy thì hàm lượng men gan sẽ tăng cao trong huyết thanh. Đo lượng men gan trong máu là phương pháp gián tiếp xác minh tình trạng và mức độ thương tổn.

Men gan càng cao, bệnh càng nặng, tiên lượng càng xấu. Men gan tăng cao nhưng sau đó giảm xuống là dấu hiệu cho thấy hiệu quả của liệu pháp. 
Với kỹ thuật sinh hóa hiện nay, thầy thuốc thường tập trung vào 3 loại men gan:

- SGOT là loại men tăng cao khi tế bào gan, tim hay bắp thịt bị hủy hoại. Bình thường, men này không vượt quá 35 đơn vị ở nữ giới và 50 đơn vị ở phái nam. Trị số này nếu tăng cao là dấu hiệu báo động nhiều bệnh chứng nghiêm trọng như viêm gan, ung thư gan, viêm túi mật, nhồi máu cơ tim, viêm cơ, viêm thận mãn, động kinh... Nhưng đừng vì thế mà hốt hoảng vì SGOT cũng có thể tăng cao do vận động bắp thịt thái quá hay trong tình trạng dị ứng.

- SGPT là loại men đồng hành với SGOT với trị số xét nghiệm và ý nghĩa bệnh lý cũng tương tự với SGOT.

- GGT là loại men tăng cao khi có tổn thương nhu mô gan hay đường dẫn mật. Thầy thuốc cần xét nghiệm này không chỉ để chẩn đoán viêm gan siêu vi hay thường hơn là viêm gan hay xơ gan do rượu mà còn để xác minh tình trạng ứ mật hay ung thư đầu tụy tạng.

Bình thường, trị số GGT dao động trong khoảng 9 đến 36 đơn vị ở nữ và từ 12 đến 64 đơn vị ở nam. Trị số này có thể tăng cao dù không có bệnh, chẳng hạn trong thai kỳ, ở người dùng các thuốc: ngừa thai, chống động kinh, lợi tiểu, điều chỉnh nội tiết tố tuyến giáp lâu ngày.

Xét nghiệm men gan nên được thực hiện định kỳ không chỉ trên người đã bệnh mà cho tất cả đối tượng dễ là miếng mồi béo bở của bệnh gan. Được thế mới mong phát hiện bệnh thật sớm cũng như theo dõi diễn tiến và đánh giá hiệu quả của liệu pháp.



Thầy thuốc muốn quyết định tiến hành liệu pháp điều trị viêm gan, đặc biệt là viêm gan siêu vi, phải căn cứ vào kết quả xét nghiệm men gan, thay vì chỉ tập trung vào phản ứng kháng thể.

Thêm vào đó, xét nghiệm men gan mà chỉ với 1 hay 2 loại thì chỉ là cưỡi ngựa xem hoa. Quan trọng hơn nữa là đừng quên so sánh kết quả xét nghiệm trước, sau để thầy thuốc có cái nhìn chính xác về diễn tiến.
 

Thanh lọc gan bằng nước gạo lứt


Câu chuyện bắt đầu sau khóa sống chung Sức Khỏe và Tâm Linh với Ðức Thầy và Thiền ca tại Washington D.C. vào tháng 8 năm 1997. Thường lệ sau khi thiền xong, chúng tôi ngồi sinh hoạt và trao đổi kinh nghiệm tu học. Nhưng lần này chúng tôi có nhiều chuyện để nói hơn vì nhóm chúng tôi có ba người vừa tham dự Thiền Ca trở về. Ðó là anh Cúc, anh Lâm và chị Trúc. Anh Lâm có đưa ra mẫu phân tích máu của anh và của anh Cúc do bà Bác sĩ Renée Welhouse chụp lại. Ai cũng ngạc nhiên khi thấy máu của anh Cúc quá sạch so với của anh Lâm. Và như anh Lâm cho biết chỉ có máu của anh Cúc và anh Du (Bạn đạo Florida) là sạch nhất trong số những bạn đạo tham dự khóa Sống Chung tức là hồng huyết cầu rất tròn và huyết thanh rất trong. Tất cả đều quay ra phỏng vấn anh Cúc đã ăn uống và thanh lọc ra sao mà hay vậy, bởi vì hai anh cũng ăn chay như nhau, thanh lọc từ nước chanh qua đến Tsiao-He cùng thời gian như nhau. Vậy mà máu của anh Cúc sạch hồng, trong khi hồng huyết cầu của anh Lâm thì méo mó cũng như đầy dẫy những độc tố và ký sinh trùng (Para-sites).

Ngoài ra sắc mặt của anh Cúc và chị Cúc cũng tươi sáng hơn xưa nhiều. Anh Cúc bèn thanh minh là anh chẳng có làm gì khác hơn so với các bạn đạo trong vùng, từ ăn uống, thiền, thanh lọc và tập thể dục. Có chăng là anh thêm phần uống nước gạo lứt rang mà anh đã bắt chước bác Thoa (một bạn đạo). Trước khi đến với nhóm thiền tại Portland, Oregan mười năm về trước, bác Thoa đã bị mổ lấy túi mật vì mật bị sạn quá nhiều. Thêm nữa bác sĩ cho biết một số lớn sạn đã tràn sang gan mặc dầu họ đã cố gắng gắp ra phần lớn nhưng vẫn còn trong gan khá nhiều. Bác sĩ cũng cho biết là gan bác đã bị chai, và y khoa hiện nay không có thuốc chữa bịnh gan nên bác sĩ cũng bó tay. Họ chỉ cho bác uống thuốc cầm chừng để thay thế chất mật và thuốc bổ gan. Người của bác càng lúc càng sút đi. Da và mắt của bác càng lúc càng vàng như nghệ. Cả nhà đều buồn. Bác tuyệt vọng. May ra có người nhà ở Việt Nam chỉ cho bác uống nước gạo lứt rang với công dụng giúp gan giải trừ độc tố và giúp cơ thể tươi nhuận hơn. Bịnh của bác đã liệt vào hạng “thầy chạy” rồi. Thôi thì ai chỉ gì bác cũng thử, vả lại cũng chẳng tốn hao gì. Bác uống liền tù tì trong ba năm dùng nước gạo lứt rang thay thế thức uống cho trà, cà phê và nước ngọt...Như một phép lạ. Da và mắt của bác không còn vàng nữa. Trong người không còn cảm giác uể oải và bực bội. Nước da của bác trở nên hồng hào và tươi sáng hơn bao giờ hết. Ði khám bác sĩ lại, từ bác sĩ cho đến y tá, ai nấy đều ngạc nhiên. Con người của bác như đã tái sinh. Họ xúm nhau đến hỏi xem bác đã uống gì mà hay vậy. Bác cũng chỉ nói nhờ bác gái chăm lo mà được như vậy. Thế là bác gái được thiên hạ xúm nhau ca tụng. Và từ đó, nếu có dịp và nghỉ là nếu có thể giúp đỡ được ai là bác đều kể lại câu chuyện này. Anh Cúc nghe bác kể liền áp dụng được hơn ba tháng trước ngày đi dự Khóa Sống Chung tại Washington D.C. nên gan được thanh lọc rất sạch tốt. Mọi người nghe xong đều ngã ngửa vì không ngờ nước gạo lứt rang lại có hiệu quả đến thế. Nửa tin nửa ngờ vì cũng mới như ngày nào bắt gặp pháp thiền Vô Vi. Giống như ra đường bảo thiên hạ bỏ ra 1 đồng và 6 tháng sau lấy lại 100 đồng vậy. Thôi thì một liều ba bảy cũng liều. Chúng tôi chạy ra chợ mua gạo lứt về rang và dùng nồi slow cooker để nấu. Sáng, trưa, chiều, tối đều dùng nước gạo lứt rang và càng uống càng mê. Sau đây là công thức nấu nước gạo lứt rang: 
Cách rang : Nếu không có thì giờ rang bằng chảo trên bếp, bạn có thể dùng máy rang bắp rang 5 phút là được. Nhưng chỉ xài được cho gạo lứt tròn, nếu gạo lứt dài phải rang bằng chảo.

Cách Nấu : Cách nấu tiện và sạch nhất là dùng nồi slow cooker, để low level (mức thấp nhất). Bạn có thể nấu từ sáng tới tối hoặc nấu qua đêm. Nếu bạn nấu nồi trên bếp thì nước gạo không trong, giống như nước cơm vậy.

Có lẽ các anh chị cũng thắc mắc về một số bạn đạo trong vùng Portland, sau sáu tháng uống thử :

Bác Thoa, dù đã 70 tuổi và không còn mật, trông bác vẫn trẻ, da mặt hồng hào và sáng láng.. So với nhiều người vào tuổi 40, bác vẫn còn hơn xa, làm việc cả ngày không thấy mệt.

Anh Cúc, nhờ uống nước gạo lứt, cọng thêm phương pháp thể dục của Ðức Thầy đã chỉ dẫn, nước da anh bóng và hồng hơn trước. Anh đã ăn được rau sống, không còn bị đau bụng như nhiều năm qua, bớt nhức mỏi mỗi khi trời trở lạnh. Chỉ có một điều làm phiền cho anh là anh phải thay một loạt quần áo mới vì những quần áo cũ đã trở nên rộng không còn mặc vừa nữa. Ði shopping bây giờ là một cực hình cho anh.
Anh Lâm, ngoài việc uống nước gạo rang, anh còn dùng thêm thuốc thanh lọc Parasites của Awareness. Hiện tại anh không còn bị đau khổ vì bịnh táo bón kinh niên từ nhiều năm qua. Cộng thêm nước da tươi mát, anh cho biết mồ hôi không còn mùi hôi nữa. Miệng cũng không còn hôi, thiên hạ khỏi cần né mỗi khi đứng trước mặt anh nói chuyện. Có lẽ nhờ thanh lọc, uống nước gạo lứt rang, thiền và tập thể dục đều, anh không còn bị nhức vai, mỏi xương sống mỗi khi làm việc nặng. Thế là từ nay anh không còn viện cớ đau lưng để trốn việc mỗi khi bị vợ nhờ cuốc đất, làm vườn.

Bích Loan, mỗi khi mùa Ðông đến là một sự sợ hãi. Cô này mỗi khi trời trở lạnh thì cổ và vai trở nên cứng ngắc, không cục cựa chi được. Mỗi lần như vậy thì phải ngâm mình vào hồ nước nóng, hoặc phải xoa dầu nóng khắp cổ và lưng thì mới nhúc nhích được. Hai năm gần đây, chứng đau nhức lan xuống đến tận bàn tay. Những đốt ngón tay sưng lên và vài ngón bị lệch hẳn qua một bên, mỗi tối phải dùng dầu nóng mà xoa bóp và dán thuốc dán Salonpas hoặc thuốc cao. Tôi khuyến khích dùng nước gạo lứt hàng ngày gần 6 tháng nay, và cũng lạ là những tay không còn bị sưng, cổ bớt tê cứng so với những năm trước. Cái hot tub trong nhà không cần phải chạy vào mùa đông năm nay. Mỗi tối Bích Loan không còn ngồi xoa bóp với dầu nóng.

Tổng kết kinh nghiệm do các bạn đã dùng nước gạo lứt rang : Sau một tháng, bạn sẽ thấy nước da bạn sáng nhuận, không còn khô nhám. Các chị nhiều khi không cần phải xài kem dưỡng da vì da đã trở nên láng tự nhiên, thấy tốt rất thích. Trong người khỏe, không còn thấy mệt mỏi và uể oải. Nửa đêm hay buổi sáng thức dậy thấy tỉnh táo, thiền lâu và tốt. Uống nước gạo lứt khoảng ba bốn tuần, bạn sẽ thấy trong người nóng, lỡ miệng....Bạn đừng sợ cứ tiếp tục uống vài ngày là sẽ hết. Sau đó có thể tự điều hòa trở lại bình thường và bạn không còn bị nóng nữa. Những người lớn tuổi không còn bị đi tiểu đêm, dù uống một ngày năm sáu ly nước gạo lứt. Mọi người đều cảm thấy thân thể ấm áp, không còn bị cảm giác ớn lạnh khi ra ngoài dù trời mùa đông tuyết giá và nhiệt độ xuống thấp.

Như Thầy vẫn thường lo lắng cho chúng ta về cả hai mặt sức khỏe và tâm linh. Khi bạn có sức khỏe tốt, thân thể khỏe mạnh, bạn sẽ làm việc hăng say vui vẻ hơn và tâm linh tiến hóa thanh nhẹ hơn, thực hành trọn lành đời đạo song tu.

Ðọc đến đây, bạn còn chần chờ gì nữa mà không chạy ra tiệm mua ngay nồi slow cooker và 10 kí gạo lứt tròn về rang, nấu mà uống thử đi chứ !

Chỉ cần rang gạo đến nâu đậm là được. Uống đậm hay lạt là tùy quý bạn (xin xem phần công thức trên). Ngoài ra vì thích uống nóng, tôi thường cho vào bình thủy mỗi sáng để đem đi làm uống dần trong ngày. Mùa đông hay hè đều uống được.
Các bạn có thể tìm hiểu thêm bằng cách liên lạc về:

Thiền đường Lưu động Portland

Nguyễn Ðức Trọng

Tel: (503) 2559689 hoặc

Fax : (503) 8236942

Kể ra câu chuyện trên, tôi hy vọng giúp các bạn có cơ hội tự chữa bịnh cho mình và với kết quả tốt của bạn sẽ giúp cho những người chung quanh bạn để họ cũng có một sức khỏe tốt. Vì mỗi người chúng ta trên 40 tuổi thì hầu như ai cũng có vấn đề về gan như yếu gan, chai gan, xơ gan. Cho nên vấn đề thanh lọc gan là cần thiết.
(Nguyên bản Việt ngữ của ông Nguyễn Ðức Trọng
đăng trong Lá Thư Vô Vi của Hội Vô Vi Thiền Ðịnh, Hoa Kỳ)

Thursday, August 18, 2016

"Asen - Thạch Tín" trong gạo và mối đe dọa tới sức khỏe con người

Nhiễm độc asen (As) là một vấn đề nghiêm trọng đối với sức khỏe của cộng đồng. As trong nước uống và ảnh hưởng của nó tới sức khỏe con người đã được nghiên cứu tại nhiều nước trong thời gian dài. Do đó, Tổ chức Y tế Thế giới đã quy định tiêu chuẩn an toàn của As trong nước uống là dưới 10μg/L (1) và việc kiểm soát As trong nguồn nước được chính phủ nhiều nước rất quan tâm. Tuy nhiên hiện nay nổi lên một mối đe dọa khác về nhiễm độc As là As trong gạo, thức ăn chính hằng ngày của hơn 3 tỉ người; và hiện tại vẫn chưa có quy định về tiêu chuẩn an toàn của As trong thức ăn.

Nguồn ảnh http://www.dieutrigan.org/
As là một chất độc tự nhiên và nhân tạo hiện diện trong môi trường sống của con người thông qua quá trình: bào mòn của đá có chứa As, phun trào núi lửa, khai khoáng, thuốc trừ sâu có chứa As và một số nguồn khác. Tổ chức Y tế Thế giới xếp As vào nhóm 1 các yếu tố gây ung thư (1). Bên cạnh ung thư, As còn là nguyên nhân gây ra những bệnh lý về tiêu hóa, tim mạch, hô hấp, thần kinh và sức khỏe sinh sản (2).
Cây lúa trong quá trình phát triển hấp thụ As trong đất và thuốc trừ sâu; As được tích tụ trong hạt gạo. Điều đặc biệt là khả năng hấp thụ As của cây lúa cao hơn các loại cây lương thực khác, do đó hàm lượng As trong hạt gạo cao hơn so với các loại hạt khác (bảng 1). * 0.32 = 32/100.

Bảng 1: Hàm lượng As trong hạt gạo, hạt lúa mì và hạt lúa mạch trong
nghiên cứu của Paul N. Williams và cộng sự
As(V): arsenate; As(III): arsenite; DMA: acid dimethylarsinic; ArsC: arsenate reductase; ArsM: arsenic methyltransferase; ArrA/B: arsenate respiratory reductase; ArsC, ArrA/B và ArsM là các enzyme có nguồn gốc từ các vi khuẩn trong đất.

Trong một nghiên cứu đoàn hệ tại Ấn Độ của Mayukh Banerjee và cộng sự (2013), thông qua việc theo dõi 400 người sử dụng gạo nhiễm As, thì phát hiện có hàm lượng cao As trong nước tiểu của họ. Ngoài ra nồng độ cao của các mảnh nhân tế bào (micronucleus), biểu hiện của quá trình tổn thương DNA (Deoxyribonucleic Acid) có nguy cơ dẫn tới ung thư, cũng được phát hiện trong tế bào biểu mô niệu đạo (5). Một số nhà khoa học đã đặt nghi vấn về nguy cơ đái tháo đường type 2, bên cạnh nguyên nhân do chế độ ăn giàu năng lượng còn có thể liên quan tới phơi nhiễm As từ gạo; As được chứng minh có thể kích hoạt stress oxy hóa và tăng tiết cytokine (một số nhóm chất có vai trò trong quá trình viêm và miễn dịch) gây đề kháng insulin, dẫn tới bệnh lý đái tháo đường type 2 (6).

Cây lúa hấp thụ As từ đất và tích lũy trong hạt gạo (4)


Trong khi chờ các nghiên cứu về gạo nhiễm As và thiết lập tiêu chuẩn hàm lượng cho phép của As trong thức ăn, thì lời khuyên được đưa ra để hạn chế nhiễm độc As từ gạo là nên có một chế độ ăn cân bằng đa dạng, ăn nhiều loại ngũ cốc khác nhau, cân nhắc khi chọn ngũ cốc cho trẻ nhỏ và kiểm soát tốt việc sử dụng thuốc trừ sâu và nguồn nước nhiễm As trong nông nghiệp. Khi sử dụng gạo nên rửa kỹ trước khi nấu để loại bỏ một phần As (7) và nên sử dụng gạo trắng có chứa ít As hơn gạo nâu (8). Hiện nay, một phương pháp mới được đề xuất có khả năng loại bỏ 85% As trong gạo, đó là thay vì nấu gạo theo cách truyền thống trong nước đun sôi, thì gạo sẽ được hấp chín bằng hơi nước (9). Tuy nhiên, quan trọng nhất vẫn là một chế độ ăn cân bằng đa dạng và khoa học.

Tác giả: Phi Minh (Viện nghiên cứu Chulabhorn, Thái Lan)
Biên tập viên: Cao Luân

Mối quan hệ giữa vi khuẩn đường ruột và tâm lý con người


Hình 1 Psychobiotics – các vi khuẩn có ảnh hưởng tới tâm lý (1)
Năm 2013, nhà tâm lý học Ted Dinan là người đầu tiên đưa ra khái niệm “psychobiotics” dành cho các vi sinh vật mang lại lợi ích về sức khỏe cho người mang các bệnh lý thần kinh hay tâm thần (2). Thuật ngữ này được gợi ý từ trận lũ tại thị trấn Walkerton, Canada vào năm 2000 khiến nguồn cung cấp nước của toàn thị trấn bị nhiễm khuẩn, chủ yếu là Escherichia coli O157:H7 vàCampylobacter spp., gây tử vong cho nhiều người do nhiễm trùng tiêu hóa (3). Hai năm sau thảm họa, một điều ngạc nhiên là bản báo cáo về tần suất bệnh trầm cảm tại địa phương tăng lên một cách bất thường (4). Bản báo cáo này đưa ra nghi ngờ về mối quan hệ giữa vi khuẩn và trầm cảm. Điều này đã gợi ý các nhà khoa học nghiên cứu và từ đó phát hiện vi khuẩn trong cơ thể có thể ảnh hưởng tới tâm lý con người. Một ý tưởng cũng được đưa ra ngay sau đó là liệu chúng ta có thể tác động lên hoạt động não bộ thông qua sử dụng vi khuẩn.

Cơ thể mỗi chúng ta mang một lượng vi khuẩn gấp mười lần tổng số lượng tế bào trong cơ thể. Trong đó, đặc biệt là hệ thống vi khuẩn đường ruột có vai trò hết sức quan trọng đối với quá trình tiêu hóa, chuyển hóa các chất và miễn dịch (5). Khi so sánh quần thể vi khuẩn trong phân giữa người trầm cảm và người bình thường, các nhà khoa học đã phát hiện sự khác biệt về thành phần một số chủng loại vi khuẩn giữa hai nhóm này (6). Đặc biệt là khi sử dụng sản phẩm có chứa vi khuẩn Bifidobacterium longum chủng 1714 hằng ngày trong 4 tuần liên tục cho 22 nam tình nguyện viên, những người này thực hiện tốt hơn các bài kiểm tra về trí nhớ, cảm thấy ít căng thẳng và có nồng độ cortisol (một hormone liên quan tới stress) thấp hơn so với nhóm sử dụng giả dược (sản phẩm tương tự nhưng không chứa vi khuẩn) (7). Tuy nhiên, một điều quan trọng là quan hệ giữa hệ thống vi khuẩn đường ruột và hoạt động não bộ được chứng minh có mối quan hệ hai chiều. Một ví dụ là trong một nghiên cứu so sánh thành phần vi khuẩn trong phân của 23 sinh viên đại học Swinburne giữa đầu học kỳ và mùa thi, Enzo A. Palombo và cộng sự nhận thấy hiện tượng giảm số lượng các chủng vi khuẩn sinh acid lactic như Lactobacillus trong giai đoạn căng thẳng là mùa thi (8).

Cơ chế của sự tương tác giữa vi khuẩn đường ruột và hoạt động não bộ được giả thiết là có liên quan một phần tới được sản xuất bởi vi khuẩn đường ruột (Bảng 1). Sự tương tác được thực hiện qua quá trình trao đổi thông tin nhờ dây thần kinh phế vị chi phối vùng ống tiêu hóa hay hệ thống miễn dịch với các phân tử như cytokine (nhóm chất có vai trò trong quá trình viêm và miễn dịch) (9).
 
 
Phát hiện nêu trên có thể hứa hẹn triển vọng trong phát triển các loại sản phẩm điều trị từ các vi khuẩn, chẳng hạn như Lactobacillus helveticus chủng R0052,Bifidobacterium longum chủng R0175, Bifidobacterium longum chủng 1714 cho bệnh nhân trầm cảm; những chủng trên đều được chứng minh cải thiện tình trạng stress và lo âu trên các tình nguyện viên khỏe mạnh (7, 10). Nhưng điều này cần có nhiều thời gian vì cơ chế tương tác thật sự giữa não bộ và vi khuẩn chưa được hiểu rõ mặc dù nhiều giả thiết đã được đưa ra. Một khó khăn nữa là không thể đảm bảo vi khuẩn sẽ cư trú tại ruột sau khi sử dụng sản phẩm bởi đặc điểm sinh học mỗi cá thể tạo điều kiện cho sự phát triển của một hệ thống vi khuẩn đường ruột riêng. Một cách đơn giản nhất để phát triển các vi khuẩn đường ruột có lợi là sử dụng các sản phẩm có chứa lợi khuẩn (probiotic) như sữa chua được chứng minh góp phần làm giảm căng thẳng và lo âu (11). Ngoài ra bổ sung các loại thực phẩm prebiotic cũng quan trọng không kém (Hình 3), đây là nhóm thực phẩm chứng minh là tạo điều kiện cho sự phát triển các lợi khuẩn, như hành tây, tỏi, măng tây và các thực phẩm có nhiều chất xơ (12).
 
Hình 2 Các loại thực phẩm có lợi cho vi khuẩn đường ruột (13)
 Tác giả: Nguyễn Phi Minh (Viện Nghiên cứu Chulabhorn)

Phản biện: Khuê Nguyễn (ĐH Arkansas, Fayetteville)

Tài liệu tham khảo:

1. Forget Prozac, Psychibiotics are the Future of Psychiatry. Popular Science. 2013

2. Dinan T, Stanton C, Cryan J. Psychobiotics: A Novel Class of Psychotropic. Biological Psychiatry. 2013;74(10):720-726.

3. Rosenbaum J. “The E. Coli Made Me Do It” - The New Yorker. 2013.

4. Ali S. A socio-ecological autopsy of the E. coli O157:H7 outbreak in Walkerton, Ontario, Canada. Social Science & Medicine. 2004;58(12):2601-2612.

5. Jandhyala S. Role of the normal gut microbiota. World Journal of Gastroenterology. 2015;21(29):8787.

6. Jiang H, Ling Z, Zhang Y, Mao H, Ma Z, Yin Y et al. Altered fecal microbiota composition in patients with major depressive disorder. Brain, Behavior, and Immunity. 2015;48:186-194.

7. The psychobiotic Bifidobacterium Longum 1714 blocks stress-inducedbehavioural and physiology changes and modulates brain activity and neurocognitive performance in healthy human subjects | Abstracts | ISG. Isge.ie. 2016.

8 Knowles, Simon R., Elizabeth A. Nelson, and Enzo A. Palombo. "Investigating The Role Of Perceived Stress On Bacterial Flora Activity And Salivary Cortisol Secretion: A Possible Mechanism Underlying Susceptibility To Illness". Biological Psychology 77.2 (2008): 132-137.

9. Dinan T, Stilling R, Stanton C, Cryan J. Collective unconscious: How gut microbes shape human behavior. Journal of Psychiatric Research. 2015;63:1-9.

10. Messaoudi, Michaël et al. "Assessment Of Psychotropic-Like Properties Of A Probiotic Formulation ( Lactobacillus Helveticus R0052 And Bifidobacterium Longum R0175) In Rats And Human Subjects". British Journal of Nutrition 105.05 (2010): 755-764. Web.

11. Tillisch, Kirsten et al. "Consumption Of Fermented Milk Product With Probiotic Modulates Brain Activity". Gastroenterology 144.7 (2013): 1394-1401.e4. Web.

12. Slavin J. Fiber and Prebiotics: Mechanisms and Health Benefits. Nutrients. 2013;5(4):1417-1435.

13. Probiotic Prebiotic Foods Stock Photos, Images, & Pictures – (8 Images). Dreamstime.com. 2016.

Nguồn vjsonline

Wednesday, August 17, 2016

Khả năng kháng ung thư của Curcumin và Graviola

Ung thư là một trong những căn bệnh nguy hiểm nhất trên thế giới và tại Việt Nam hiện nay. Theo thống kê của Bộ Y tế, mỗi năm có khoảng 110.000 ca bệnh ung thư mới được phát hiện ở nước ta (1). Điều đáng lo ngại là số lượng bệnh nhân ung thư đang gia tăng nhanh và tỉ lệ tử vong do ung thư tại Việt Nam thuộc hàng cao nhất trên thế giới (2). Vì vậy việc tầm soát và chữa trị ung thư tại Việt Nam cần nhiều bước tiến nhanh để chăm sóc sức khoẻ cho người dân. Bài viết này sẽ đề cập đến khả năng kháng ung thư của một số hoạt chất thiên nhiên được chiết xuất từ nghệ và cây mãng cầu xiêm. Những thông tin được giới thiệu trong bài viết được trích dẫn từ các nghiên cứu khoa học và y học của nhiều viện nghiên cứu và bệnh viện ung thư trên thế giới. Nếu quí độc giả quan tâm đến các nghiên cứu này, xin vui lòng đọc các tài liệu gốc bằng tiếng Anh với trích dẫn ở cuối bài viết. Bài viết chỉ nhằm cung cấp các thông tin khoa học và y học liên quan đến tác dụng của curcumin và graviola đối với ung thư. Việc tham khảo ý kiến chuyên môn của các bác sĩ, dược sĩ, và chuyên gia y tế trước khi sử dụng các loại thuốc, thuốc bổ, vitamin,... là rất cần thiết.

Keywords: PI3K; Akt; mTOR; acute myeloid leukemia
 
1. Hoạt tính kháng ung thư của curcumin

CCurcumin là một hoạt chất quan trọng trong củ nghệ. Khả năng kháng ung thư của curcumin được phát hiện và kiểm chứng bởi hơn 2200 công trình nghiên cứu khoa học và y học trên thế giới. Các nghiên cứu sức khoẻ cộng đồng cho thấy Ấn Độ là nước có tỉ lệ ung thư đường tiêu hoá thấp nhất trên toàn cầu (3). Một trong những nguyên nhân chính là do trong khẩu phần ăn của người Ấn Độ có rất nhiều cà ri, với thành phần chủ yếu là nghệ và các loại gia vị. Hàm lượng curcumin trong cà ri khá cao và đóng vai trò quan trọng trong việc ngăn ngừa, ức chế, tiêu diệt tế bào ung thư (3-9).

Hình 1: Công thức hoá học của curcumin. Nguồn: Wikipedia

Các nghiên cứu khoa học cho thấy curcumin có tác dụng bất hoạt phân tử NF-κB và các con đường truyền tín hiệu liên quan đến phân tử này (3-10). NF-κB đóng vai trò quan trọng đối với sự sinh tồn, tăng trưởng, phân chia, và di căn của rất nhiều loại tế bào ung thư. Vì vậy khi phân tử NF-κB bị ức chế, tế bào ung thư sẽ tự chết (tự sát, apoptosis), giảm hoặc mất khả năng tăng trưởng và di căn (5, 6, 8, 9).

HHơn nữa, curcumin còn có tác dụng kích hoạt các protein kháng ung thư sẵn có trong tế bào như p53, p16, Bax... qua đó tiêu diệt, ức chế sự tăng trưởng và sinh tồn của tế bào ung thư. Curcumin còn có khả năng kìm hãm các gien mã hoá các protein gây ung thư như Bcl-2, Bcl-XL, MMP9, VEGF, cyclin D1, cyclin E, c-jun, c-fos, c-myc, NIK, MAPKs, ERK, ELK, PI3K, Akt, CDK ... và làm suy giảm khả năng sống sót, di căn và phát triển của tế bào ung thư cũng như ức chế quá trình tạo mạch máu trong khối u (4-10). Vì vậy, curcumin tấn công tiêu diệt tế bào ung thư hiệu quả bằng nhiều cách khác nhau mà không làm ảnh hưởng nhiều đến các tế bào bình thường (4-10).

Curcumin còn có tác dụng ngăn ngừa ung thư (9, 11). Quan trọng hơn, curcumin còn vô hiệu hoá hoặc giảm khả năng kháng thuốc của khối u bằng cách ức chế hệ thống cytochromne P450 và enzyme glutathione-S-transferase của tế bào ung thư (7, 8, 12-14).

Hình 2: Curcumin, một thành phần quan trọng của nghệ. Nguồn: Wikipedia.

Ngoài tác dụng kháng ung thư, curcumin còn có khả năng chống ôxi hoá, kháng viêm, kháng khuẩn và chống lão hoá (4, 6, 10, 15). Việc sử dụng curcumin đúng liều lượng và đúng cách hầu như không có tác dụng phụ hoặc độc tính nào đáng kể đối với các tế bào bình thường (3, 4, 6, 7, 9-11, 15).

Vì vậy, hiện nay có rất nhiều công trình nghiên cứu y học và thử nghiệm lâm sàng đang được tiến hành tại nhiều viện nghiên cứu và trung tâm y khoa trên thế giới để nâng cao hiệu quả của curcumin cũng như khai thác khả năng kháng ung thư của hoạt chất này trong việc điều trị và phòng ngừa căn bệnh ung thư.

Hình 3: Khả năng ức chế và tiêu diệt tế bào ung thư của curcumin.

Curcumin có tác dụng bất hoạt phân tử NF-κB và các con đường truyền tín hiệu liên quan đến phân tử này. NF-κB đóng vai trò cực kì quan trọng đối với sự sinh tồn, tăng trưởng, phân chia, kháng thuốc và di căn của rất nhiều loại tế bào ung thư. Vì vậy khi phân tử NF-κB bị ức chế hoàn toàn, tế bào ung thư sẽ tự chết (tự sát, apoptosis), giảm hoặc mất các khả năng phân chia, kháng thuốc, di căn. Curcumin cũng bất hoạt và kìm hãm các gien gây ung thư khác. Quan trọng hơn, curcumin còn kích hoạt các gien kháng ung thư sẵn có trong tế bào, qua đó ức chế và tiêu diệt tế bào ung thư.

lưu ý: Tác dụng phụ của curcumin là không đáng kể. Tuy nhiên, các bệnh nhân bị loãng máu, hoặc đang sử dụng thuốc chống đông máu, thuốc kháng viêm, thuốc ức chế miễn dịch, thuốc giảm đau cần tránh sử dụng curcumin bởi các nguy cơ tương tác thuốc. Curcumin còn làm tăng hoạt tính của nhiều loại thuốc khác. Do đó, việc dùng curcumin riêng rẽ hoặc cùng với các thuốc khác đều cần có sự tư vấn chuyên môn của các chuyên gia y tế.
2. Hoạt tính kháng ung thư của Graviola

Graviola còn được gọi là mãng cầu xiêm. Lá, thân, trái, hạt của mãng cầu xiêm thường được dùng trong các bài thuốc y học dân gian và các món ăn.

Các nghiên cứu y sinh học gần đây phát hiện graviola có khả năng ức chế quá trình tăng trưởng và phân chia của tế bào ung thư cũng như tiêu diệt tế bào ung thư hiệu quả (16-18). Các hoạt tính kháng ung thư của graviola đã được chứng minh trong nhiều thí nghiệm trên nhiều dòng tế bào ung thư cũng như trên các mô hình động vật mang tế bào ung thư của người (16-18). Trong một nghiên cứu năm 2011, các nhà khoa học tại Đại Học Virginia Tech, Hoa Kỳ, phát hiện graviola có tác dụng ức chế sự tăng trưởng của dòng tế bào ung thư vú MDA-MB-468 (tế bào ung thư vú di căn ác tính) bằng cách kìm hãm con đường truyền tín hiệu của phân tử EGFR (epidermal growth factor receptor, thụ thể của nhân tố tăng trưởng ngoại bì) (16). Quan trọng hơn, graviola không ảnh hưởng đến tế bào vú bình thường. Điều này chứng tỏ tác dụng đặc hiệu của graviola lên tế bào ung thư (16).
 
 
Năm 2012, các nhà nghiên cứu tại Đại học Omaha, Hoa Kỳ báo cáo trên tạp chí khoa học Cancer Letters về tác dụng của graviola trong việc ức chế quá trình chuyển hoá năng lượng, phân chia và di căn của tế bào ung thư tuỵ (17). Trong một nghiên cứu gần đây (tháng 7 năm 2013), các nhà nghiên cứu tại Đại Học Nông Nghiệp Tamil Nadu của Ấn Độ phân tích các thành phần hoá học của graviola và phát hiện graviola chứa nhiều hoạt chất acetogenin có khả năng ức chế các quá trình sản xuất năng lượng và tăng trưởng của tế bào ung thư (18). 
 
Hình 5: Graviola làm suy giảm khả năng sinh tồn, ức chế sự tăng trưởng, kìm hãm quá trình sản xuất năng lượng và ngăn chặn sự di căn của tế bào ung thư.
Graviola còn được sử dụng trong một số bài thuốc dân gian để điều trị các bệnh do nấm, vi khuẩn, virus, và kí sinh trùng.

K

Kết luận: Curcumin và graviola là hai trong số các loại hợp chất thiên nhiên có khả năng tiêu diệt tế bào ung thư một cách hữu hiệu bằng cách ức chế cùng lúc nhiều quá trình sinh học quan trọng của tế bào ung thư. Các nghiên cứu khoa học trong phòng thí nghiệm và trên các mô hình động vật cho thấy curcumin và graviola có tác dụng ức chế hiệu quả sự sinh tồn, tăng trưởng và di căn của khối u. Nhiều thử nghiệm lâm sàng và nghiên cứu chuyên sâu hơn về graviola và curcumin đang được tiến hành trên bệnh nhân.
 

Lưu ý: Một số nghiên cứu cho thấy graviola, nếu được dùng với liều cao và lâu dài, có thể ảnh hưởng đến hệ thần kinh. Graviola không nên sử dụng chung với thuốc điều trị trầm cảm, cao huyết áp, bệnh tiểu đường. Graviola cũng có thể làm giảm tiểu cầu và khả năng hấp thu các hoạt chất phóng xạ của tế bào. Do đó, các bệnh nhân đang thực hiện các xét nghiệm chẩn đoán hình ảnh hoặc các qui trình điều trị cần sử dụng các chất đánh dấu phóng xạ, các đồng vị phóng xạ, nên tạm ngưng sử dụng graviola trong thời gian thực hiện các qui trình trên. Việc sử dụng graviola liều cao trong thời gian dài cũng có thể làm ảnh hưởng đến chức năng gan và thận. Do đó, việc theo dõi chức năng gan và thận cần được tiến hành khi thường xuyên dùng graviola liều cao.

Các thông tin trong bài viết này được trích dẫn từ các nghiên cứu khoa học và y học do nhiều trung tâm và bệnh viên ung thư trên thế giới tiến hành. Mục tiêu của bài viết nhằm cung cấp cho quí độc giả các thông tin khoa học và y học về curcumin và graviola. Tuy nhiên, quí độc giả cần cân nhắc và thận trọng khi sử dụng curcumin và graviola. Việc tham khảo ý kiến chuyên môn của bác sĩ và dược sĩ và các chuyên gia y tế trước khi sử dụng các loại thảo dược, hợp chất thiên nhiên, vitamin, thuốc bổ và các loại thuốc khác là rất cần thiết.

Nguồn: vjsonline

Tuesday, August 16, 2016

Cách đọc kết quả xét nghiệm máu mọi người nên biết

Mỗi lần đến phòng khám hay bất cứ một bệnh viện nào để tìm bệnh, chúng ta đều được yêu cầu làm xét nghiệm máu. Vậy xét nghiệm máu để làm gì và làm thế nào để chúng ta biết những xét nghiệm trong phiếu xét nghiệm máu đó là gì? Mỗi người trong chúng ta đã biết được những gì trong cái phiếu trả kết quả xét nghiệm máu đó. Chúng ta cùng tìm hiểu nhé.?


Phần 1: CÁC THÀNH PHẦN CỦA CÔNG THỨC MÁU


- WBC (White Blood Cell – Số lượng bạch cầu trong một thể tích máu):
Giá trị thường nằm trong khoảng từ 4.300 đến 10.800 tế bào/mm3, tương đương với số lượng bạch cầu tính theo đơn vị quốc tế là 4.3 đến 10.8 x 109tế bào/l.
Tăng trong viêm nhiễm, bệnh máu ác tính, các bệnh bạch cầu...;
Giảm trong thiếu máu do bất sản, thiếu hụt vitamin B12 hoặc folate, nhiễm khuẩn...
Giá trị thường nằm trong khoảng từ 4.300 đến 10.800 tế bào/mm3.

- RBC (Red Blood Cell – Số lượng hồng cầu (hoặc erythrocyte count) trong một thể tích máu):

Giá trị thường nằm trong khoảng từ 4.2 đến 5.9 triệu tế bào/cm3, tương đương với số lượng hồng cầu tính theo đơn vị quốc tế là 4.2 đến 5.9 x 1012tế bào/l.

Tăng trong mất nước, chứng tăng hồng cầu;
Giảm trong thiếu máu.

- HB hay HBG (Hemoglobin – Lượng huyết sắc tố trong một thể tích máu):

Hemoglobin là một loại phân tử protein có trong hồng cầu chuyên chở oxy và tạo màu đỏ cho hồng cầu.

Giá trị thay đổi tùy giới tính, thường nằm trong khoảng từ 13 đến 18 g/dl đối với nam và 12 đến 16 g/dl đối với nữ (tính theo đơn vị quốc tế tương ứng là 8.1 – 11.2 millimole/l và 7.4 – 9.9 millimole/l).

Tăng trong mất nước, bệnh tim và bệnh phổi;
Giảm trong thiếu máu, chảy máu và các phản ứng gây tan máu.

- HCT (Hematocrit – Tỷ lệ thể tích hồng cầu trên thể tích máu toàn bộ):

Giá trị thay đổi tùy giới tính, thường nằm trong khoảng từ 45 đến 52% đối với nam và 37 đến 48% đối với nữ.

Tăng trong các rối loạn dị ứng, chứng tăng hồng cầu, hút thuốc lá, bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính(COPD), bệnh mạch vành, ở trên núi cao, mất nước, chứng giảm lưu lượng máu;
Giảm trong mất máu, thiếu máu, thai nghén.

- MCV (Mean corpuscular volume – Thể tích trung bình của một hồng cầu):

Giá trị này được lấy từ HCT và số lượng hồng cầu. Giá trị bình thường nằm trong khoảng từ 80 đến 100 femtoliter (1 femtoliter = 1/1triệu lít).

Tăng trong thiếu hụt vitamin B12, thiếu acid folic, bệnh gan, nghiện rượu, chứng tăng hồng cầu, suy tuyến giáp, bất sản tuỷ xương, xơ hoá tuỷ xương; giảm trong thiếu hụt sắt, hội chứng thalassemia và các bệnh hemoglobin khác, thiếu máu trong các bệnh mạn tính, thiếu máu nguyên hồng cầu, suy thận mạn tính, nhiễm độc chì.

- MCH (Mean Corpuscular Hemoglobin – Số lượng trung bình của huyết sắc tố có trong một hồng cầu):

Giá trị này được tính bằng cách đo hemoglobin và số lượng hồng cầu. Giá trị bình thường nằm trong khoảng từ 27 đến 32 picogram.

Tăng trong thiếu máu tăng sắc hồng cầu bình thường, chứng hồng cầu hình tròn di truyền nặng, sự có mặt của các yếu tố ngưng kết lạnh; giảm trong bắt đầu thiếu máu thiếu sắt, thiếu máu nói chung, thiếu máu đang tái tạo.

- MCHC (Mean Corpuscular Hemoglobin Concentration – Nồng độ trung bình của huyết sắc tố trong một thể tích máu):

Giá trị này được tính bằng cách đo giá trị của hemoglobin và hematocrit. Giá trị bình thường nằm trong khoảng từ 32 đến 36%.
Trong thiếu máu tăng sắc: hồng cầu bình thường, chứng hồng cầu hình tròn di truyền nặng, sự có mặt của các yếu tố ngưng kết lạnh.

Trong thiếu máu đang tái tạo: có thể bình thường hoặc giảm do giảm folate hoặc vitamin B12, xơ gan, nghiện rượu.

- PLT (Platelet Count – Số lượng tiểu cầu trong một thể tích máu):

Tiểu cầu không phải là một tế bào hoàn chỉnh, mà là những mảnh vỡ của các tế bào chất (một thành phần của tế bào không chứa nhân hoặc thân của tế bào) từ những tế bào được tìm thấy trong tủy xương.

Tiểu cầu đóng vai trò sống còn trong quá trình đông máu, có tuổi thọ trung bình là 5 đến 9 ngày.
Giá trị thường nằm trong khoảng từ 150.000 đến 400.000/cm3 (tương đương 150 – 400 x 109/l).
Số lượng tiểu cầu quá thấp sẽ gây mất máu. Số lượng tiểu cầu quá cao sẽ hình thành cục máu đông, làm cản trở mạch máu, dẫn đến đột quỵ, nhồi máu cơ tim, nghẽn mạch phổi, tắc nghẽn mạch máu...
Tăng trong những rối loạn tăng sinh tuỷ xương, bệnh bạch tăng tiểu cầu vô căn, xơ hoá tuỷ xương, sau chảy máu, sau phẫu thuật cắt bỏ lách..., dẫn đến các bệnh viêm.

Giảm trong ức chế hoặc thay thế tuỷ xương, các chất hoá trị liệu, phì đại lách, đông máu trong lòng mạch rải rác, các kháng thể tiểu cầu, ban xuất huyết sau truyền máu, giảm tiểu cầu do miễn dịch đồng loại ở trẻ sơ sinh...

Lymphocyte giúp cơ thể chống lại nhiễm trùng. 

Lymphocyte giúp cơ thể chống lại nhiễm trùng. Có rất nhiều nguyên nhân làm giảm lymphocytes như: giãm miễn nhiễm, nhiễm HIV/AIDS, Lao, sốt rét, ung thư máu, ung thư hạch...

Giá trị bình thường nằm trong khoảng từ 20 đến 25%.

- MXD (Mixed Cell Count – tỷ lệ pha trộn tế bào trong máu):
Mỗi loại tế bào có một lượng % nhất định trong máu. MXD thay đổi tùy vào sự tăng hoặc giảm tỷ lệ của từng loại tế bào.

- NEUT (Neutrophil – Tỷ lệ bạch cầu trung tính):

Giá trị bình thường nằm trong khoảng từ 60 đến 66%. Tỷ lệ tăng cao cho thấy nhiễm trùng máu.

Tăng trong nhiễm khuẩn cấp, nhồi máu cơ tim cấp, stress, ung thư, bệnh bạch cầu dòng tuỷ; giảm trong nhiễm virus, thiếu máu bất sản, các thuốc ức chế miễn dịch, xạ trị...

- RDW (Red Cell Distribution Width – Độ phân bố hồng cầu):

Giá trị này càng cao nghĩa là độ phân bố của hồng cầu thay đổi càng nhiều. Giá trị bình thường nằm trong khoảng từ 11 đến 15%.

RDW bình thường và:
MCV tăng, gặp trong: thiếu máu bất sản, trước bệnh bạch cầu.
MCV bình thường, gặp trong: thiếu máu trong các bệnh mạn tính, mất máu hoặc tan máu cấp tính, bệnh enzym hoặc bệnh hemoglobin không thiếu máu.
MCV giảm: thiếu máu trong các bệnh mạn tính, bệnh thalassemia dị hợp tử

RDW tăng và:
MCV tăng: thiếu hụt vitamin B12, thiếu hụt folate, thiếu máu tan huyết do miễn dịch, ngưng kết lạnh, bệnh bạch cầu lympho mạn.
MCV bình thường: thiếu sắt giai đoạn sớm, thiếu hụt vitamin B12 giai đoạn sớm, thiếu hụt folate giai đoạn sớm, thiếu máu do bệnh globin.
MCV giảm: thiếu sắt, sự phân mảnh hồng cầu, bệnh HbH, thalassemia.

- PDW (Platelet Disrabution Width – Độ phân bố tiểu cầu):

Giá trị bình thường nằm trong khoảng từ 6 đến18 %.

Tăng trong ung thư phổi, bệnh hồng cầu liềm, nhiễm khuẩn huyết gram dương, gram âm; giảm trong nghiện rượu.

- MPV (Mean Platelet Volume – Thể tích trung bình của tiểu cầu trong một thể tích máu):

Giá trị bình thường nằm trong khoảng từ 6,5 đến 11fL.

Tăng trong bệnh tim mạch, tiểu đường, hút thuốc lá, stress, nhiễm độc do tuyến giáp...; giảm trong thiếu máu do bất sản, thiếu máu nguyên hồng cầu khổng lồ, hoá trị liệu ung thư, bạch cầu cấp...

- P- LCR (Platelet Larger Cell Ratio – Tỷ lệ tiểu cầu có kích thước lớn):

Giá trị bình thường nằm trong khoảng từ 150 đến 500 G/l (G/l = 109/l).


Phần 2:  CÁCH ĐỌC KẾT QUẢ SINH HÓA MÁU

GLUCOSE là đường trong máu. Giới hạn bình thường từ 4,1-6,1 mnol/l.

1. GLU (GLUCOSE): Đường trong máu. Giới hạn bình thường từ 4,1-6,1 mnol/l. Nếu vượt quá giới hạn cho phép thì tăng hoặc giảm đường máu. Tăng trên giới hạn là người có nguy cơ cao về mắc bệnh tiểu đường.

2. SGOT & SGPT: Nhóm men gan

Giới hạn bình thường từ 9,0-48,0 với SGOT và 5,0-49,0 với SGPT. Nếu vượt quá giới hạn này chức năng thải độc của tế bào gan suy giảm (Bài thuốc giải độc gan hữu hiệu Chanh và Mật ong uống hắng ngày). Nên hạn chế ăn các chất thức ăn, nước uống làm cho gan khó hấp thu và ảnh hưởng tới chức năng gan như:
Các chất mỡ béo động vật và rượu bia và các nước uống có gas.

3. Nhóm MỠ MÁU: Bao gồm CHOLESTEROL, TRYGLYCERID, HDL-CHOLES, LDL-CHLES

Giới hạn bình thường của các yếu tố nhóm này như sau:
Giới hạn bình thường từ 3,4-5,4 mmol/l với CHOLESTEROL.
Giới hạn bình thường từ 0,4-2,3 mmol/l với TRYGLYCERID.
Giới hạn bình thường từ 0,9-2,1 mmol/l với HDL-Choles.
Giới hạn bình thường từ 0,0-2,9 mmol/l với LDL-Choles.

Nếu 1 trong các yếu tố trên đây vượt giới hạn cho phép thì có nguy cơ cao trong các bệnh về tim mạch và huyết áp. Riêng chất HDL-Choles là mỡ tốt, nếu cao nó hạn chế gây xơ tắc mach máu. Nếu CHOLESTEROL quá cao kèm theo có cao huyết áp và LDL-Choles cao thì nguy cơ tai biến, đột quỵ do huyết áp rất cao. Nên hạn chế ăn các thực phẩm chứa nhiều chất mỡ béo và cholesterol như: phủ tạng động vật, trứng gia cầm, tôm, cua, thịt bò, da gà... Tăng cường vận động thể thao. Uống thêm rượu tỏi và theo dõi huyết áp thường xuyên.


4. GGT: Gama globutamin, là một yếu tố miễn dịch cho tế bào gan. Bình thường nếu chức năng gan tốt, GGT sẽ có rất thấp ở trong máu (Từ 0-53 U/L). Khi tế bào gan phải làm việc quá mức, khả năng thải độc của gan bị kém đi thì GGT sẽ tăng lên -> Giảm sức đề kháng, miễn dịch của tế bào gan kém đi. Dễ dẫn tới suy tế bào gan. Nếu với người có nhiễm SVB trong máu mà GGT, SGOT & SGPT cùng tăng thì cần thiết phải dùng thuốc bổ trợ tế bào gan và tuyệt đối không uống rượu bia nếu không thì nguy cơ dẫn đến Viêm gan siêu vi B (HBsAg) là rất lớn.

5. URE (Ure máu): là sản phẩm thoái hóa quan trọng nhất của protein được thải qua thận.

Giới hạn bình thường: 2.5 - 7.5 mmol/l.

6. BUN (Blood Urea Nitrogen) = ure (mg) x 28/60; đổi đơn vị: mmol/l x 6 = mg/dl.
Tăng trong: bệnh thận, ăn nhiều đạm, sốt, nhiễm trùng, tắc nghẽn đường tiểu...
Giảm trong: ăn ít đạm, bệnh gan nặng, suy kiệt...

BUN: là nitơ của ure trong máu.

Giới hạn bình thường 4,6 - 23,3 mg/dl. -> Bun = mmol/l x 6 x 28/60 = mmol/l x 2,8 (mg/dl).
Tăng trong: suy thận, suy tim, ăn nhiều đạm, sốt, nhiễm trùng..
Giảm trong: ăn ít đạm, bệnh gan nặng..

7. CRE (Creatinin): là sản phẩm đào thải của thoái hóa creatin phosphat ở cơ, lượng tạo thành phụ thuộc khối lượng cơ, được lọc qua cầu thận & thải ra nước tiểu; cũng là thành phần đạm ổn định nhất không phụ thuộc vào chế độ ăn -> có giá trị xác định chức năng cầu thận.

Giới hạn bình thường: nam 62 - 120, nữ 53 - 100 (đơn vị: umol/l).
Tăng trong : bệnh thận, suy tim, tiểu đường, tăng huyết áp vô căn, NMCT cấp...
Giảm trong : có thai, sản giật...


8. URIC (Acid Uric = urat): là sản phẩm chuyển hóa của base purin (Adenin, Guanin) của ADN & ARN, thải chủ yếu qua nước tiểu.

Giới hạn bình thường: nam 180 - 420, nữ 150 - 360 (đơn vị: umol/l).

Tăng trong:
Nguyên phát: do sản xuất tăng, do bài xuất giảm (tự phát) -> liên quan các men: bệnh Lesh Nyhan, Von Gierke..

Thứ phát: do sản xuất tăng (u tủy, bệnh vảy nến..), do bài xuất giảm (suy thận, dùng thuốc, xơ vữa động mạch..).

Bệnh Gout (thống phong): tăng acid uric/ máu có thể kèm nốt tophi ở khớp & sỏi urat ở thận.

Giảm trong: bệnh Wilson, thương tổn tế bào gan..

9. KẾT QUẢ MIỄN DỊCH
Anti-HBs: Kháng thể chống vi rút viêm gan siêu vi B trong máu (ÂM TÍNH < = 12 mUI/ml).
HbsAg: Vi rút viêm gan siêu vi B trong máu (ÂM TÍNH).

Theo vndoc

Friday, August 5, 2016

Sử dụng mật ong không nóng khi nào?

1. Tìm hiểu về mật ong nguyên chất.

– Mật ong nguyên chất có thành phần chủ yếu là hỗn hợp của các loại đường tự nhiên, nước, các loại vitamin và khoáng chất…Trong đó, hai loại đường đơn chủ yếu là glucose, furcose đều có tính bình không gây nóng trong người.

– Tuy nhiên, mật ong rởm hay mật ong không nguyên chất (có pha đường) có tính nóng

– Uống mật ong nguyên chất không gây nóng nhưng khi kết hợp với một số thực phẩm mang tính nóng sẽ gây nóng trong người.


2. Uống mật ong với các thực phẩm khác có nóng không ?

Nghệ mật ong là bài thuốc dân gian rất tốt, giúp điều trị nhiều bệnh như đau dạ dày, chữa viêm họng…(tham khảo tác dụng của nghệ và mật ong). Tuy nhiên, bản chất của nghệ mang tính nóng khi kết hợp cùng mật ong sẽ gây nóng trong người. Do đó, bạn chỉ nên ăn từ 1 đến 2 thìa nghệ mật ong trước bữa cơm khoảng 30 phút để mang lại hiệu quả tốt và giúp làm giảm tính nóng. 

– Ngoài nghệ thì khi kết hợp mật ong với tỏi, gừng, quế… cũng mang tính nóng.


– Mọi người thường dùng mật ong vào mùa lạnh để trung hoà giữa hai luồng khí nóng và lạnh trong người, giúp cơ thể ổn định



mà không gây ảnh hưởng tới sức khoẻ. Tuy nhiên, để điều trị bệnh triệt để hoặc bồi bổ cơ thể nếu bạn biết các kết hợp mật ong nguyên chất với các thực phẩm mang tính hàn thì cũng không gây nóng cho cơ thể ngay cả trong mùa hè nóng bức.


+ Mật ong kết hợp với nước chanh uống buổi sáng giúp thanh lọc cơ thể, cải thiện đường tiêu hoá và tăng cường hệ miễn dịch ngoài ra còn cung cấp năng lượng, giảm mệt mỏi căng thẳng.

+ Kết hợp mật ong cùng chanh đào, quất còn giúp điều trị ho, dịu cổ họng rất tốt.

+ Lòng đỏ trứng gà ngâm mật ong giúp làm đẹp da, giúp tăng cân và hỗ trợ điều trị bệnh về dạ dày, đại tràng và suy nhược cơ thể…


– Tóm lại, tuỳ vào mục đích sử dụng của mỗi người, hãy kết hợp mật ong cùng các thực phẩm sao cho phù hợp nhất. Với các bệnh mang tính hàn thì dùng mật ong kết hợp thực phẩm tính nhiệt sẽ rất hiệu quả, giúp ổn định khí huyết.

Sunday, July 31, 2016

Ăn dứa giải độc, khỏe gan

Dứa là một trong những loại thực phẩm tốt nhất để duy trì sức khỏe của gan.

Dứa là một loại trái cây nhiệt đới được nhiều người yêu thích. Nó chứa tới 16 khoáng chất tự nhiên và rất nhiều sinh tố cần thiết cho cơ thể. Chính vì thế, dứa là một trong số ít loại quả có tác dụng giảm cân tốt, ngoài ra nó còn có hiệu quả cho những người bị táo bón, đau họng, ... Đặc biệt, dứa là một trong những loại thực phẩm tốt nhất để duy trì sức khỏe của gan.


Dứa tốt cho gan

Bảo vệ lá gan là nhiệm vụ cực kỳ quan trọng để duy trì sức khỏe. Nếu không được bảo vệ gan sẽ mắc phải các bệnh như rối loạn chức năng gan, viêm gan, gan nhiễm mỡ, nguy hiểm hơn phải kể đến xơ gan hay ung thư gan. Tuy nhiên có những loại thực phẩm đơn giản, rẻ tiền như quả dứa có tác dụng bảo vệ lá gan rất hiệu quả.

Dứa là một loại trái cây nhiệt đới được nhiều người yêu thích. Nó chứa tới 16 khoáng chất tự nhiên và rất nhiều sinh tố cần thiết cho cơ thể. Các nhà khoa học cho biết, dứa là một trong số ít loại quả có tác dụng giảm cân tốt, ngoài ra nó còn có hiệu quả cho những người bị táo bón, đau họng, cảm lạnh, thậm chí ăn dứa còn có thể làm sáng da.

Dứa có chứa vitamin C, B-Complex bao gồm folate, thiamin, pyridoxine, riboflavin và rất nhiều khoáng chất như kali, canxi, phốt pho và mangan. Bên cạnh đó dứa còn chứa chất xơ hòa tan và không hòa tan tự nhiên và đặc biệt dứa rất ít calo. Một trong những hợp chất có trong dứa tên là bromelain thực sự tốt cho sức khỏe của gan. Đây là một loại enzyme giúp phân hủy các chất độc trong cơ thể con người và hỗ trợ cho việc loại bỏ chất độc hại này. Dứa còn giàu vitamin C giúp tăng cường hệ miễn dịch, người ta tính rằng, nước dứa tươi chứa tới 75% vitamin C cho nhu cầu cơ thể hàng ngày. Vitamin B trong dứa giúp cho quá trình trao đổi chất của cơ thể, giúp tái tạo tủy xương và tăng cường canxi giúp xương chắc khỏe.


Hiện nay số người mắc bệnh gan nhiễm mỡ ngày càng tăng cao, dứa chính là một giải pháp tự nhiên không phải dùng thuốc cho những người mắc căn bệnh này. Nó giúp giải độc rất tốt, làm sạch tế bào gan. Hợp chất bromelin phân bố nhiều nhất ở lõi dứa, gấp tới 20 lần so với thịt dứa, nên khi ăn loại quả này bạn không nên bỏ lõi dứa. Dứa thúc đẩy quá trình tiêu hóa trong cơ thể, đặc biệt có lượng chất xơ lớn giúp cho quá trình trao đổi chất của cơ thể. Uống nước ép dứa 1 lần mỗi ngày sẽ giúp loại bỏ mỡ của cơ thể.

Ăn dứa đúng cách

Một số mẹo sau sẽ giúp bạn ăn dứa mà không gây hại cho gan, làm cho loại quả nhiệt đới này trở nên an toàn và có lợi nhất cho sức khỏe của bạn:

- Khi ăn cùng lúc những loại thực phẩm giàu mangan như các loại đậu, hạt, trứng... thì không nên ăn nhiều dứa.

- Nên ăn dứa tươi hoặc ép dứa tươi để tối đa lợi ích dinh dưỡng của dứa vì nước ép dứa đóng hộp thường chứa các chất làm ngọt nhân tạo cũng như các loại hương liệu không tốt cho sức khỏe.

- Bạn cần biết rằng chất bromelain trong dứa rất tốt cho người bệnh gan sẽ bị phá hủy bởi nhiệt độ, không nên đun nấu dứa quá kỹ.

- Ngoài ăn uống, bạn có thể sử dụng các loại thực phẩm hữu cơ tươi, uống nhiều nước và loại bỏ các loại thực phẩm chế biến tốt cho người mắc bệnh gan.


Dứa cũng có hại cho cơ thể nếu dùng quá nhiều

Không chỉ dứa mà bất cứ thực phẩm nào nếu ăn quá nhiều cũng làm mất cân bằng dinh dưỡng và ảnh hưởng tới sức khỏe. Dứa cũng như vậy, trong dứa có một lượng nhỏ mangan, có tác dụng kích thích chuyển hóa chất béo, làm giảm cholesterol. Mặc dù mangan cũng là chất cần thiết cho chức năng sinh lý của con người nhưng nếu ăn quá nhiều thực phẩm chứa mangan sẽ gây ngộ độc, nhất là đối với những người bị bệnh gan. 


Theo các chuyên gia dinh dưỡng, một người lớn không nên dùng quá 11 mg mangan mỗi ngày. Đối với những người mắc các bệnh gan mạn tính, khi nạp quá nhiều mangan vào cơ thể sẽ phải đối mặt với nguy bị ảnh hưởng tới hệ thần kinh ngoại vi, gây rối loạn cảm xúc, ảnh hưởng gan, phổi, tim mạch.

Nguồn S.K.D.S